Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

“Xóm” câu xác bên dòng Lam Giang

Bên một bãi bồi cạnh cầu Bến Thủy, thành Vinh, Nghệ An, sát tả ngạn sông Lam có một “xóm” ngụ cư độc nhất vô nhị, được người dân ở đây gọi là “xóm câu xác người”.
Gọi là “xóm” chứ thực ra cả xóm chỉ có 7 hộ gia đình, là anh chị em trong một nhà cùng làm nghề chài lưới ven sông Lam kiêm cả nghề câu xác người (mỗi lần có ai nhảy cầu tự vẫn hoặc không may bị chết đuối).
 
Ba đời câu xác trên sông Lam

Một số thành viên trong “xóm câu xác người” bên bờ sông Lam.
 
Chúng tôi đến “xóm câu xác” khi trời chiều vừa xế bóng. Quang cảnh bên bãi bồi ven sông mỗi chiều về thật đìu hiu và ảm đạm, khiến cho mấy người bạn đi cùng không dám bước đi vì sợ. Được một chị dẫn vào tận đầu ngõ nhưng khi vào chúng tôi vẫn không thể tin nổi vào mắt mình vì cả xóm chỉ có 7 ngôi nhà lụp xụp, tứ bề vây cót, loang lổ tường rêu, chỉ được mỗi căn nhà đầu lối đi vào là được đổ mái bằng kiên cố, có vẻ khá nhất trong xóm. Nhìn quanh quất chỉ có mấy đứa trẻ con đang lùa đàn ngỗng dưới sông về chuồng. Hỏi bố mẹ, mấy đứa trẻ ngơ ngác chỉ tay về mấy chiếc thuyền chài nhỏ đang neo đậu rải rác ngoài bến sông.

Phải 30 phút sau, mới thấy lác đác ba bốn người phụ nữ tóc vàng hoe, da đen nhẻm vì cháy nắng vừa đi vào vừa nói chuyện rôm rả. Thấy chúng tôi, từ xa, bước chân họ có vẻ nhanh nhẹn hơn. Vừa chạm mặt chưa kịp chào một người trong số họ đã nhanh nhảu lên tiếng: “Mấy chú đến nhờ đi tìm xác người thân hả?”.
 
Khi biết chúng tôi là phóng viên báo đến tìm hiểu thông tin, viết bài, người phụ nữ lớn tuổi nhất trong nhóm nhìn chúng tôi lắc đầu, tặc lưỡi “các chú đến muộn mất rồi, sớm hơn mấy ngày thì hay quá. Cách đây mấy ngày thôi, vừa có một vụ nhảy cầu nữa. Con bé mới 18 tuổi nhưng cao lớn, xinh đẹp lắm, nhà ở TP Vinh. Không biết vì lý do gì mà nhảy cầu Bến Thủy tự tử. Gia đình họ nhờ chúng tôi đi câu xác hộ. Cháu nó nhảy từ 1h sáng nhưng đến tận 3h, mấy anh chị em bọn tôi mới câu được xác cháu. Tội nghiệp lắm, nghe đâu con bé sinh ra ở Đức. 5 tuổi thì được bố mẹ đưa về Việt Nam sống với ông bà nội. Sau này bố nó về nhưng mẹ thì vẫn ở lại bên Đức... không biết vì lý do gì dại dột thế không biết?”. Câu chuyện càng trở nên rôm rả hơn khi những người đàn ông từ bến sông trở về.

Theo lời kể của anh Nguyễn Văn Việt: Cả nhà anh có tới 12 anh chị em (7 trai, 5 gái). Xưa cha mẹ sinh ra và lớn lên trên những chiếc thuyền nan với nghề đánh cá ven sông. Tuổi thơ họ lớn lên lấy sóng nước làm bạn, lấy chiếc thuyền nan nhỏ bé làm nhà. Chính vì thế mà khi hỏi tuổi ai cũng lắc đầu không biết vì có được đi học, có biết chữ đâu mà biết tính tuổi, nhớ ngày, tháng, năm sinh. Mãi đến khi mẹ mất, cha quyết định đưa mấy anh chị em lên bờ, dựng tạm mái tranh để chị em có chỗ vào ra. Cũng nhờ thế mà nay mấy chị em mới có được chỗ để làm nhà, xây dựng mái ấm riêng như ở đây.

Riêng nghề vớt xác là nghề có từ đời cụ cố. Tính đến đời họ là đời thứ ba. “Nhà chúng tôi ba đời làm nghề chài lưới ven sông, cái nghề chài lưới mới là nghề chính. Tuy nhiên, nếu có gặp xác trôi hoặc có ai nhờ câu xác, vớt xác thì chúng tôi cũng làm vì đó là làm việc nghĩa để lấy phúc, lấy đức cho con cháu về sau. Ngày xưa, cụ nội tôi hơn 40 năm làm nghề chài lưới trên sông Lam, thông thuộc từng quãng sông, con nước nên đã truyền lại kinh nghiệm cho cha tôi và cha tôi lại truyền lại cho anh chị em tôi. Vì vậy, việc câu xác, vớt xác với chúng tôi thành thạo chẳng thua kém gì nghề chài lưới” – anh Việt tâm sự.

Với họ, bất kể là mùa đông hay mùa hè, đêm hay ngày, hễ cứ có người đến nhờ đi tìm xác người thân là họ liền vội vàng đánh thuyền đi. Trước đây, chỉ nhận tìm ở những quãng sông quanh cầu Bến Thủy hoặc trên sông Lam nhưng mấy năm gần đây, tiếng tăm của họ được nhiều nơi biết. Khi có người ở những vùng xa như Con Cuông, Chôm Lôm (Nghệ An) hay Cửa Nhượng, Kỳ Anh (Hà Tĩnh) nhờ, họ cũng đi.

“Cướp” người từ tay Hà Bá

Cầu Bến Thủy vốn là cây cầu đẹp nhất nhì miền Trung, nhưng cũng mang tiếng cây cầu “Tử thần” vì mỗi năm, từ cây cầu này không ít  người giã từ sự sống... Hầu hết họ còn rất trẻ.
 
Chiếc thuyền nan nhỏ bé của mẹ con chị Nguyệt.

Dẫn chúng tôi ra tận bến sông Lam, chỉ tay hướng về cầu Bến Thủy, chị Nguyễn Thị Nguyệt là chị cả của mấy anh chị em của xóm câu xác phân trần “Thất tình, trượt tốt nghiệp, buồn chuyện riêng, bị bố mẹ mắng... hàng trăm lý do để các em làm chuyện dại dột. Sông Lam nhìn thì rất nông nhưng kỳ thực sâu lắm, mà dưới lòng sông lại có rất nhiều dãy đá ngầm. Chỉ cần nhảy xuống mà không biết bơi thì khoảng mấy phút sau là chết ngay...”.

Chị Nguyệt còn cho biết, cứ mỗi lần đến mùa thi là mấy anh chị em không dám đi đánh bắt cá ở xa bởi thường vào thời điểm này rất nhiều em tự tử vì bị trượt tốt nghiệp mà phần nhiều là các em nữ, đều ở TP Vinh. Riêng mỗi lần ở xa, ai nhờ đi tìm là cả 14 anh chị em vừa dâu, rể cùng con trai của chị, chia nhau làm 7 thuyền đi tìm. Dụng cụ mà họ dùng câu xác người đơn giản chỉ vài chục loại lưỡi câu vuông, làm bằng inox và một vài đoạn dây thừng.

Kinh nghiệm của những người làm cái việc liều mạng “cướp” lại xác người từ tay hà bá như chị Nguyệt, anh Việt hay của cả xóm câu xác này chính là lựa dòng nước để đoán định khoảng cách xác. Thường khi nước “trở” xác sẽ trôi ngược về thượng nguồn còn khi nước xuôi xác sẽ trôi theo dòng nước về hạ nguồn. Nếu xác chết không bị mắc cạn ở những khe đá thì chỉ cần căn khoảng cách chuẩn là có thể câu được ngay, không cần nhiều thời gian.
 
Nhưng nếu bị mắc cạn thì 3 hay 4 ngày xác mới nổi lên. “Thường thì trước khi bắt đầu việc câu xác bao giờ chúng tôi cũng phải làm lễ cúng ngay chỗ người ta nhảy xuống. Có như thế xác mới mau nổi và việc tìm xác sẽ dễ hơn rất nhiều” – một người trong số họ thêm vào khi chúng tôi hỏi về kinh nghiệm tìm xác.
 
Anh Nguyễn Văn Việt – người có thâm niên ở xóm câu xác về khả năng liều mạng “cướp” lại xác người từ tay Hà Bá.

Anh Việt, chị Nguyệt dẫn chúng tôi ra một bãi đất trống cách nhà khoảng 1km để chỉ cho chúng tôi những nấm mồ vô chủ của những nạn nhân xấu số mà họ vớt được xác khi đang thả lưới trên sông Lam. “Có nhiều người khi vớt xác lên thì đã bị thối rữa, trương phình và hầu hết những người đó là những người không có người thân hoặc người thân không biết để tìm đến. Chúng tôi phải vớt lên rồi tự tay đi mua quần áo, hương vàng về an táng cho họ như những người thân trong gia đình. Ngày rằm, mùng một vẫn mang hương ra thắp cho từng nấm mộ”.

Chỉ vào nấm mộ dè dè, còn mới đất chị Nguyệt kể: “Đây là mộ của một cô gái khoảng hơn 30 tuổi, chưa có người thân đến nhận. Khi mấy anh chị em tôi đang thả lưới trên sông Lam thì thấy xác cô trôi lềnh bềnh trên mặt nước. Chúng tôi chèo thuyền lại thì mùi thối bốc lên không thể nào buộc dây được. Phải gần 1 tiếng đồng hồ vật lộn thì mới kéo được xác cô vào bờ nhưng mà xác bị trương phình, phân hủy gần hết. Đích thân tôi mua quần áo rồi làm khâm lượm cho cô và đưa cô ra chôn ở đây...”.
 
Hà Tùng Long

Choáng váng "truyện người lớn" của teen

Đã qua rồi cái thời các teen truyền nhau lén lút những cuốn truyện tranh sex hoặc những đĩa phim có nội dung “người lớn”.
 
Các 9x bây giờ không chỉ thành thạo về việc tìm kiếm các loại game xxx để có được cảm giác lạ mà mạnh bạo hơn, họ còn rủ nhau sáng tác truyện sex rồi tung lên blog riêng hoặc “share” (chia sẻ) cho nhau trên các diễn đàn. Hiện tượng này đang báo động một sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức của lứa tuổi mới lớn và cần phải có những biện pháp ngăn chặn kịp thời.
 
Truyện sex teen - SOS!

Thật dễ dàng để bắt gặp những câu chuyện có nội dung hết sức thô thiển, dung tục trên các trang blog và các trang web “đen” mà chủ nhân của các truyện sex này là những cô, cậu bé tuổi đời chưa quá 20.
 
Đa số những người viết được nhiều truyện sex là do những người đó đã đọc và xem rất nhiều truyện sex, phim sex…thậm chí đã từng “kinh qua”.

Hầu hết những truyện mà các teen này sáng tác đều đề cập đến những chuyện quan hệ tình dục lứa đôi, loạn luân, đồng tính luyến ái... với những thứ ngôn từ trần trụi đến thô thiển. Họ miêu tả cụ thể từng chi tiết, từng động tác khiến cho người đọc khi đọc cũng cảm thấy phải đỏ mặt vì ngượng. Thậm chí, trong nhiều truyện nhiều teen còn “ngây thơ” vác cả “nguyên mẫu” của một số người thân mà họ quen biết vào làm nhân vật và vô tư chú thích ở cuối truyện là “nhân vật trong truyện đã được đổi tên còn đa số chi tiết trong truyện đều là có thật...”. Có nhiều “tác giả” còn ngang nhiên kí tên ở dưới là tác giả tuổi teen kèm nick name liên lạc.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu thì đa phần các truyện đều có một kết cấu và bố cục giống nhau hoặc được kể lại như là người chứng kiến. Điều này chứng tỏ không ít teen dù không biết hoặc không có khả năng sáng tác nhưng cũng học đòi bạn bè, dựa trên những thước phim được xem qua băng đĩa, website hoặc lấy lại truyện của các thành viên rồi thêm “mắm muối” vào để thêm hấp dẫn sau đó kí tên mình.

Một teen boy có nick name “me_sex_cong_tu...x” cho biết, cậu rất bất ngờ vì lâu lắm không vào blog của mình nhưng gần đây cậu mở blog ra thì nhận được hàng chục link dẫn đến một trang web “đen” mà một người bạn cùng lớp gửi cho cậu. Khi cậu click theo đường link và mở ra thì đó là hàng loạt truyện sex do chính anh bạn đó sáng tác. Teen boy này còn phát hiện ra anh bạn này không chỉ gửi link cho riêng mình mà còn gửi cho một số bạn nam khác trong lớp với cùng một lời nhắn “Tao phải vận trí hành thông lắm mới luyện được mấy “viên linh đan” này. Chúng mày không đọc thì hơi phí! Trong mấy truyện tao gửi cho bọn mày có một truyện là tao được chứng kiến đó nha...”.
 
Nhiều teen dù còn ít tuổi nhưng lại là chủ nhân của rất nhiều truyện sex cực “hit” (có lượng người đọc nhiều).

Còn theo T.A (16 tuổi – học sinh lớp 10 trường THPTK...) – một thành viên tích cực của diễn đàn “tangmay...com” thì: “Dù mới tập sáng tác nhưng mình cũng đã là tác giả của trên dưới 10 “tác phẩm” sex. Mình chủ yếu sáng tác truyện sex dành cho các bạn cùng tuổi chứ chưa đủ “trình” để sáng tác truyện gay. Nhưng những truyện của mình đều được đọc và comment rất nhiều... Sắp tới mình sẽ up thêm một số truyện dài mà mình vừa sáng tác được lên blog cho các bạn của mình cùng đọc”.

Nhiều teen khác còn cho biết, trong nhóm sáng tác truyện sex thường có cả nam và nữ và không phụ thuộc vào tuổi tác. Nhiều teen đã là chủ nhân của rất nhiều truyện sex cực “hit” (có lượng người đọc nhiều). Theo họ lí giải thì đa số những người viết được nhiều truyện sex hoặc có được nhiều “tác phẩm” có lượng đọc cao là do những người đó đã đọc và xem rất nhiều truyện sex, phim sex... thậm chí đã từng “kinh qua” nên câu chuyện của họ có nhiều chi tiết thực. Đó là điều thu hút người đọc nhất(?!).

Viết truyện sex cho…vui!?

Khi được hỏi vì sao bạn sáng tác truyện sex hay bạn sáng tác truyện sex để làm gì? Một số teen 9x đã vô tư trả lời: chỉ sáng tác cho vui thôi!?
 
Một blog về truyện sex tự sáng tác khá nổi trong cộng đồng blogger.

M.T – học sinh lớp 11 trường THPT L.T cho biết: “Em đến với việc sáng tác truyện sex này cũng hoàn toàn tình cờ. Vốn là “thần dân” của nhiều trang truyện người lớn từ hồi còn học lớp 9. Nhưng đọc nhiều cũng chán, xem nhiều cũng chẳng có gì mới nên em tập thử sáng tác truyện theo ý của mình... cho hay. Không ngờ khi em đưa tác phẩm của mình lên mạng thì được rất nhiều người đọc. Các bạn cứ khuyến khích em sáng tác nên em càng thấy hứng thú hơn với việc này...”.

Còn theo một số thành viên trên các diễn đàn truyện sex dành cho thế giới thứ ba, thì hều hết các truyện sex do các thành viên viết ra là nhằm thỏa mãn tâm sinh lý mà thôi. Có nhiều teen gay, les dù mới lớn nhưng đã gặp nhiều bế tắc trong chuyện tình cảm, tình dục... và họ không biết nói với ai nên đã chọn việc sáng tác truyện sex để chia sẻ với mọi người như một cách giải tỏa. Nhưng cũng có nhiều teen do lệch lạc trong nhận thức nên đã tự sáng tác truyện sex rồi tung lên các diễn đàn công cộng, các blog riêng và xem đó như một minh chứng khẳng định sự sành điệu của mình trong các ngón nghề ăn chơi.

Hầu hết các teen vẫn chưa ý thức hết tầm nguy hại của việc sáng tác và phát tán truyện sex nên họ có thể bỏ học, bỏ các thú chơi lành mạnh khác để ngồi hàng giờ nghĩ ra đủ các loại truyện sex táo bạo, “độc chiêu” hòng gây sự chú ý đối với các bạn của mình trên các diễn đàn.

Một blogger có nick name “Ông trùm...” thổ lộ qua một entry của mình như sau: “Mấy đứa bạn của mình mấy hôm nay toàn trốn học để về nhà thằng K xem phim sex. Chúng nó chúi đầu cả ngày trên màn hình, xem hết phim này đến phim khác mà vẫn chưa thể sáng tác ra nổi một truyện. Chúng nó cứ tưởng sáng tác truyện sex như mình dễ lắm ý và chỉ cần ngồi xem là có thể sáng tác được ý... Trước đây, chỉ tình cờ được một thằng bạn gửi cho cái link một số truyện do nó sáng tác cho mình đọc thử, mình đọc xong thấy thích quá nên viết thử ai dè lại viết được mới chết chứ.

Theo Thạc sĩ tâm lý học Phạm Mạnh Hà - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ và Tư vấn tâm lý (Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội): “Ở lứa tuổi teen hiện nay vấn đề nói chuyện về sex công khai trước mặt người lớn, đám đông vẫn đang là một điều cấm kị, trong khi ở độ tuổi của các em đã có những chuyển biến tâm lý rất mãnh liệt, nhất là các ham muốn tình dục. Việc sáng tác truyện sex của các em, một phần cũng bắt nguồn từ việc muốn giải tỏa những ức chế về mặt tâm sinh lý đồng thời còn là muốn thể hiện mình để gây sự chú ý trước mọi người, nhất là những gì liên quan đến sex, hot thường được nhiều người quan tâm và comment rất nhiều.

Thế nhưng, trước những việc này chúng ta vẫn đang còn thiếu một sự định hướng rõ ràng từ phía nhà trường và gia đình để các em có thể nhận thức rõ tác hại của hành vi trên. Thêm vào đó là sự du nhập một cách ồ ạt, thiếu kiểm soát của các loại văn hóa phẩm thiếu lành mạnh trên internet khiến cho việc này trở nên sớm vượt ngưỡng. Xét về lâu dài, việc này không chỉ ảnh hưởng đến trí tuệ và sức khỏe của các em mà còn dẫn đến một sự xuống cấp về mặt đạo đức, văn hóa của một thế 
Điều nguy hiểm nhất chính là việc sáng tác truyện sex cũng có thể gây nghiện như đọc hoặc xem truyện, phim sex, nghiện games. Thậm chí sau khi sáng tác xong mỗi câu chuyện, nhiều teen còn bị ám ảnh rất lâu bởi những cảm giác của nhân vật trong truyện do mình tự tưởng tượng ra. Các teen cứ bị mụ mị trong hàng mớ ngôn từ bẩn thỉu, thô thiển khiến cho tinh thần lúc nào cũng mất tập trung và do đó dẫn đến bỏ bê việc học hành. Đấy là chưa kể đến chuyện nhiều teen thường xuyên thức khuya sáng tác nên luôn phải đối mặt với bệnh trầm cảm và thiếu ngủ, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và tinh thần.
 
Hà Tùng Long

Những huyền thoại của đường Trường Sơn: Chuyện lạ dưới đèo Sa Mù

Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, nhắc đến địa danh đèo Sa Mù – Khe Sanh với địa thế hiểm trở, nhiều dốc đứng, thú dữ… ai cũng “rùng mình”. Không có cách gì để vượt đèo, các đơn vị bộ đội phải đi vòng hơn 30km để đến được bên kia chân đèo.
 
Đến tận năm 1997, Bộ Quốc phòng quyết định giao cho Đoàn công binh Lũng Lô thuộc Bộ tư lệnh Công binh phụ trách thi công khai thông phía nam đèo để tiện giao thông qua lại, cũng như cấp phát hậu cần cho các đồn biên phòng dọc trục biên giới Việt - Lào.
 
Trong quá trình mở đèo, các anh chị em của Đoàn công binh Lũng Lô đã chứng kiến rất nhiều chuyện lạ lùng mà hết sức cảm động về những liệt sĩ đã hy sinh nơi đây.
 
Đoàn công binh Lũng Lô đang rải đá khai thông những đoạn đường đầu tiên dưới chân đèo Sa Mù. (Ảnh Tư liệu)
 
Vượt đèo phải vòng sang Lào
 
Thượng tá Nguyễn Văn Hùng – nay là Phó giám đốc Công ty xây dựng Lũng Lô, một người đã có rất nhiều năm gắn bó với Trường Sơn. Khi đất nước đang còn chiến tranh ông là một trong những người lính, người chỉ huy mở những tuyến đường Trường Sơn đầu tiên. Khi đất nước đã hòa bình, ông lại tiếp tục được cấp trên giao phó mở những tuyến đường mới góp phần hình thành nên đường Hồ Chí Minh sau này.
 
Gắn bó nhiều với Trường Sơn,Thượng tá Nguyễn Văn Hùng là người đã chứng kiến không biết bao nhiêu câu chuyện lạ lùng về đất và người nơi này. Duy có một câu chuyện làm ông thay đổi tư duy rất nhiều về cái chết, về vong linh của những người đã khuất. Đó là câu chuyện những ngày ông cùng đơn vị đảm trách thi công khai quang con đường ở phía nam chân đèo Sa Mù đến đỉnh đèo để hình thành tuyến giao thông mới.
 
Ông cho biết, đèo Sa Mù nằm ở phía tây bắc tỉnh Quảng Trị, giáp biên giới Việt - Lào. Đèo có độ cao trên 1.400m so với mực nước biển, với nhiều dốc đứng, quanh co, hiểm trở. Trong chiến tranh chống Mỹ, Sa Mù – Khe Sanh là những vùng đất gắn liền với nhiều trận chiến lịch sử và cũng là nơi chiến tranh ác liệt nhất. 
 
Những năm 1964 – 1975, mỗi lần vận chuyển lương thực, vũ khí... từ miền Bắc vào, khi đi qua đèo U bò, Cù Đăng, sông Xê Băng Hiên (gần địa phận Cù Bai, Tà Rùng) đến phía bắc đèo Sa Mù bộ đội ta buộc phải hành quân vòng sang đi nhờ trên đất bạn Lào khoảng 30km rồi mới đi vòng trở lại chân đèo ở phía Nam vì đèo quá cao, nhiều dốc đứng, rất khó để đi qua.
 
Sau này, (từ 1995- 1996) để vận chuyển hậu cần cho các đồn biên phòng dọc tuyến đường này các chiến sĩ ta vẫn phải bám theo tuyến đường mòn cũ đi nhờ trên đất bạn Lào. Đến giữa năm 1997, Bộ Quốc phòng chính thức cho triển khai xây dựng tuyến vượt đèo Sa Mù dài 12km để thuận tiện cho việc đi lại. Đơn vị của ông được phân công thi công phía nam chân đèo lên đến đỉnh dài khoảng 7 km. Đoạn còn lại từ đỉnh đèo kéo xuống bắc chân đèo do đoàn 384 thuộc Binh đoàn 12 phụ trách.
 
Thượng tá Hùng cho biết: “Đoạn đường chúng tôi thi công gặp vô vàn khó khăn vì đèo cao, dốc đứng, dây gai và dây mây chằng chịt quấn quýt lấy nhau chặn hết cả lối đi. Trước đó còn được dân bản xứ cho biết, đường lên đỉnh đèo Sa Mù trước nay chưa hề có dấu chân người. Đêm đến, ngoài tiếng vượn hú còn có cả tiếng voi rống hổ gầm...”.
 
Không thể bạt đèo vì gặp hài cốt liệt sĩ
 
Thượng tá Hùng kể: “Khoảng 9h sáng một ngày trung tuần mùa hạ năm 2007, trời vừa tan sương mù, tôi đề nghị anh chị em nuôi quân cho anh em ăn cơm sớm để tranh thủ ra đường thi công, bù lại mấy hôm ảnh hưởng mưa bão. Tôi và đồng chí phụ lái đến gần doanh trại, xác định vị trí hố móng để chuẩn bị đào đường, lắp ống cấu tạo phi 75. Tuy nhiên, do đoạn đường này có quá nhiều lớp đá rắn nên Ban chỉ huy công trường đã phải quyết định điều chiếc máy ủi C100 mới toanh từ Hà Nội vào hỗ trợ. Cách đấy ba hôm, tôi đã cưỡi lên chiếc xe này để ủi thử, máy nổ êm ru, đi lại rất ngon lành, lưỡi ben sắc như dao phát rừng. Các loại cây có đường kính từ 30 – 40 li án ngữ trên tuyến đều ngã gục trước lưỡi ben này.
 
Đèo Sa Mù ngày nay.
 
Sáng hôm đó, sau khi kiểm tra dầu mỡ, tay lái, tôi và mấy anh em quyết định chạy máy động thổ. Chúng tôi ngồi lên xe, nhằm mô đất trước mặt, nâng lưỡi ben lao tới. Khi lưỡi ben sắp chạm mô đất, tôi cho hạ cần ben để đẩy. Bỗng dưng xe rú ga ầm ầm, rồi tắt lịm. Cậu phụ lái hoảng hốt nhảy xuống kiểm tra rồi nói vọng lên: “Báo cáo chỉ huy, máy móc tốt ạ!”. Tôi lại cho xe rú ga nhưng lần này lại có những làn khói mờ đục nhả ra hòa vào trong sương sớm. Tôi cho xe lùi lại phía sau 5m rồi được đà tiến lên. Bánh xe xích ầm ầm lao tới với vận tốc khá đều và thuận lợi, nhưng khi lưỡi ben vừa đóng phập vào mô đất là xe bỗng gầm lên rồi tắt lịm. 
 
Lúc này đích thân tôi và cậu phụ lái cùng nhảy xuống, kiểm tra lại máy móc, xem xét chướng ngại vật thì tất cả đều ổn. Sau khi xem xét xong tôi toan bước chân lên buồng lái thì bỗng dưng có một cảm giác rất lạ trỗi dậy. Một cảm giác bồn chồn, khó tả cứ xâm chiếm lấy tôi nhưng vì thời gian đang gấp gáp nên tôi không kịp nghĩ nhiều đến nó. Tôi lại ngồi lên xe rồi cho xe lùi lại 10m sau đó nhằm thẳng mô đất tiến tới. Lần này cũng như hai lần trước, máy chỉ gầm lên rồi lại tắt lịm. Chúng tôi nhìn nhau không hiểu chuyện gì đang xảy ra.
 
Khi bước ra khỏi buồng lái, dù tôi không nói gì nhưng cậu phụ lái như đã hiểu ý tôi, chạy vội vào doanh trại cầm ra một bó hương thắp lên rồi hướng về phía mô đất, chắp tay khấn rằng: “Anh em bộ đội công binh chúng tôi được lệnh vào mở con đường này. Nếu đây là nơi trú ngụ của các liệt sỹ từ những ngày tham gia chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh thì chúng tôi xin phép được dời các anh về an nghỉ tại Nghĩa trang Đường 9 để người thân, đồng đội tiện đi lại thăm viếng, khói hương”.
 
Khấn xong, chúng tôi vội vàng lên xe cho nổ máy tiếp tục hoạt động. Lúc này xe không còn bị tắt máy như lần trước nữa mà cắm phập vào mô đất và chém bạt từng mảng đất một cách dễ dàng. Được khoảng gần 1m đất thì trong lòng đất lộ ra rất nhiều túi ni- lông... Tôi nhảy xuống cùng đồng chí lái phụ nâng nhẹ từng túi một, đặt các túi đó lên một tấm ni- lông chúng tôi đã chuẩn bị sẵn. Có tất cả 5 túi trong đó có 1 túi bị bạc, lộ ra một chiếc mũ cối đã bạc màu, đôi dép cao su, chiếc bi đông bị méo mất một góc ở đáy và một khẩu súng ngắn K54 đã hoen rỉ.
 
Trong lúc chúng tôi đang sắp xếp lại các bộ hài cốt thì phát hiện ở trong túi này có một chiếc túi ni- lông nhỏ được cột chặt, nằm lẫn trong đó. Chúng tôi mạn phép mở ra xem thì thấy một tờ giấy đã nhòe màu mực, trên đó vẽ sơ lược nơi chôn cất, quê quán, ngày hy sinh của những liệt sỹ này. Lúc này, các anh chị em đang thi công ở đoạn đường gần đó biết chuyện chạy đến vây quanh. Bộ phận nuôi quân đã kịp chuẩn bị xong một mâm cơm cúng với một con gà trống choai, một bát xôi nếp và 5 quả trứng gà luộc. Một em gái liên lạc chạy vội vào rừng chặt được một cành phong lan rừng màu tím cắm vào chai nước suối đặt cạnh bát hương.
 
Tôi thắp thêm ba bó hương rồi chia đều cho mỗi anh chị em mỗi người một nén. Nhiều chị em nuôi quân và mấy chiến sĩ trẻ mới ở Hà Nội vào đã không cầm nổi nước mắt, cứ sụt sịt như chính các liệt sĩ là người thân của mình. Hôm đó chúng tôi một mặt cử người gác bảo vệ hài cốt, một mặt về huyện Hướng Hóa, Quảng Trị thông báo”. Được tin, huyện Hướng Hóa và bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị đã cử người về làm lễ di dời các liệt sĩ về an nghỉ tại nghĩa trang Đường 9.
 
Cũng từ đó, trước mỗi lần thi công làm những con đường mới trên tuyến đường Trường Sơn anh chị em đoàn công binh Lũng Lô lại thận trọng làm lễ trước khi động thổ. Bởi hơn ai hết họ hiểu rằng, đâu đó trong lòng đất mẹ vẫn còn những bộ hài cốt của các chiến sĩ đã hy sinh anh dũng trong chiến tranh đang bị thất lạc, chưa thể tìm ra hết.
 
                                                                                                                               Hà Tùng Long

Những huyền thoại của đường Trường Sơn: Vang danh "Trung đoàn thần tốc"

Đường mòn Hồ Chí Minh ra đời đã tạo nên huyết mạch giao thông đường bộ, vận chuyển một khối lượng lớn vũ khí, quân trang, quân dụng… chi viện cho chiến trường miền Nam. Do chiến tranh ngày càng ác liệt, yêu cầu chi viện cho miền Nam ngày càng nhiều nên Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị cho Cục Công binh khảo sát Trường Sơn để mở tuyến đường cơ giới.
 
Tháng 6/1964, tại Trung Hà (Sơn Tây) Thiếu tướng Lê Quang Hòa đã thay mặt Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 98 mở con đường này. Từ giây phút ấy, những con người anh hùng của Trung đoàn 98 đã không ngừng phát huy truyền thống của những cựu chiến binh Điện Biên Phủ, lập nên những kỳ tích chói lọi, vang danh “Trung đoàn thần tốc” anh hùng.
 
16 tháng mở được 256km đường
 
Tiếp chúng tôi trong căn phòng nhỏ của khu tập thể cán bộ Binh đoàn Trường Sơn, Thiếu tướng Tô Đa Mạn - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98, sau là Phó Tư lệnh Binh đoàn 12, người đã gắn bó suốt những năm tháng mở đường cơ giới, bồi hồi kể lại những ngày tháng gian khổ mà ông và đồng đội sát cánh kề vai mở nên con đường cơ giới chiến lược.
 
Thiếu tướng Mạn kể, đại đa số chỉ huy của Trung đoàn 98 là các đồng chí từng chiến đấu trên mặt trận Điện Biên Phủ. Do yêu cầu của kháng chiến, đầu tháng 7/1964, sau khi chuẩn bị xong từ Trung Hà (Sơn Tây) Trung đoàn bắt đầu hành quân vào Trường Sơn với mật danh Chi hội Bình Minh thuộc Hội Lao động giải phóng miền Nam cùng những trang bị hết sức đơn giản như: Cuốc, xẻng và một số vũ khí là chiến lợi phẩm của quân Pháp như súng trường 7,9 ly, tiểu liên Sten, Thomson... Đầu tháng 8/1964, vượt qua hàng trăm kilômét đường rừng núi, đường 9 Nam Lào tới Sê Pôn, qua Dốc Thơm và dàn quân hạ trại.
 
Chỉ với những phương tiện hết sức thô sơ như cuốc, xẻng, cào… nhưng trong vòng 16 tháng, Trung đoàn 98 đã mở được tới 256km đường.
 
Ngày 9/8/1964, sau nhiều lần cân nhắc, Trung đoàn trưởng Phan Quang Tiệp đã quyết định lấy ngày này (ngẫu nhiên trùng với phiên hiệu của Trung đoàn) để mở tuyến đường cơ giới. Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 2 được chọn là đơn vị bổ nhát cuốc đầu tiên. Đoạn Sa Đi – Mường Noòng được chọn làm nơi đột phá.
 
Trước đó, khi vừa dàn quân hạ trại, toàn Trung đoàn đã nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông tin việc Mỹ đã leo thang đánh phá miền Bắc, gây “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” vào ngày 5/8/1964 nên Ban chỉ huy Trung đoàn đã nêu cao quyết tâm biến căm thù thành sức mạnh để trả thù cho nhân dân miền Bắc và giải phóng miền Nam. Nhờ thế, đoàn quân lao động hết sức hăng say, hừng hực lửa căm thù... và thật lạ kỳ, ngày đầu tiên ra quân đã đạt được thắng lợi to lớn với năng suất đạt gần 200%. Một đoạn đường gần 10km đã được làm xong nhanh chóng, sẵn sàng đưa vào sử dụng.
 
4 tháng sau, đúng vào dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung đoàn đã hoàn thành chặng đường từ đường 9 Nam Lào đến sông Bạc dài 104km. Ngày 8/12/1964, đoàn xe cơ giới đầu tiên do đồng chí Nguyễn Nhạn - Phó Tham mưu trưởng công binh dẫn đầu đã tới được bờ Bắc sông Bạc trước sự reo mừng của hàng ngàn chiến sĩ, đồng bào địa phương.
 
Đầu năm 1965, Trung đoàn 98 có thêm một “người bạn” mới là Trung đoàn 279 (mật danh là Chi hội Rạng Đông) từ miền Bắc vào. Cả hai Trung đoàn Bình Minh và Rạng Đông đã đồng cam cộng khổ, sát cánh kề vai vượt sông Bạc, mở tuyến đường mới vào tận ngã ba biên giới ba nước Đông Dương.
 
Cuối tháng 12/1965, vượt qua tất cả các trọng điểm như Mô Phiên, Xê Ca Mán, Sê Sụ, Trung đoàn đã hoàn thành đoạn đường đến S9 (Tà Xẻng) - ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia một cách thần tốc. Ngay sau đó, một đoàn xe đầu tiên từ hậu phương vào tận đây giao hàng cho các chiến sĩ giải phóng và đồng bào Tây Nguyên.
 
“Lúc bấy giờ, chúng ta mở đường cơ giới này địch chưa hề biết nên làm đến đâu là phải ngụy trang đến đấy. Vì phải đảm bảo bí mật nên mọi phương tiện làm đều rất thô sơ, dùng sức người là chính, không dám dùng máy móc hỗ trợ. Thậm chí khi phá đá, dùng đục đá để phá mà cũng hạn chế tối đa tiếng động. Như vậy tính từ tháng 8/1964 đến tháng 12/1965, tức là 16 tháng mà đã làm được 256km đường cơ giới hoàn toàn bằng sức người, trong điều kiện hết sức gian khổ, bí mật, một điều nằm ngoài sức tưởng tượng...” – Thiếu tướng Mạn tâm sự.
 
Đường vừa mở xong, xe đã thông ra mặt trận.
 
Vang danh “Trung đoàn thần tốc”
 
Tuyến đường ô tô có tầm quan trọng đặc biệt từ nam sông Bạc đến S9 – Tà Xẻng vừa được khánh thành thì vào ngày 24/1/1966, đúng mồng 2 Tết Bính Ngọ, toàn Trung đoàn nhận được lệnh hành quân thần tốc mở đường C4 từ ngã ba Phi Hà sang phía tây theo đường biên giới của 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia rồi thọc vào huyện Xiêm Pạng tỉnh Stung Treng của Campuchia, dài 204km.
 
Theo mệnh lệnh của cấp trên, toàn bộ chiến sĩ phải hóa trang thành “cu li” cho một viên tư sản Việt kiều để mở một tuyến đường cơ giới Phi Hà – Xiêm Pạng và tuyến đường sông song song với đường cơ giới này, để nối Campuchia với tuyến 559 và mặt trận Tây Nguyên nhằm khai thác nguồn lương thực hàng hóa từ Campuchia.
 
Trước đó, cấp trên đã bố trí ông Đức Phương – một cán bộ của Tổng cục Hậu cần đóng vai một tư sản Việt kiều ở Lào. “Ông chủ” Đức Phương sau một thời gian móc nối đã dùng vật chất mua chuộc được viên huyện trưởng Xiêm Pạng, hắn đã đồng ý cho ông mua được hàng ngàn tấn gạo và hàng hóa từ Phnom Penh và cho ta mở một con đường ô tô và khai thông tuyến đường sông chạy qua huyện này để tiện cho việc vận chuyển gạo và hàng hóa.
 
Thiếu tướng Tô Đa Mạn những ngày còn trong quân ngũ.
 “Ban đầu chúng tôi được dẫn vào để gặp nhà tư sản Đức Phương, cứ nghĩ nhà tư sản chắc phải phương phi, đạo mạo lắm nhưng khi vào gặp thì không phải thế. Người ông rất tầm thước, nước da hơi đen, mắt thì hơi lấp la, lấp láy và nói thì ê a, trông chẳng có chất gì của một nhà tư sản, nhưng phải thừa nhận là ông có một bộ óc siêu phàm. Ông nhanh nhạy và tính toán như thần...” – Thiếu tướng Mạn nhớ lại.
 
Vì phải hoàn thành thật gấp, càng sớm càng tốt để kịp thời “giải cứu” cho mặt trận Tây Nguyên và cho cả Đoàn 559... nên cả Trung đoàn cấp tốc hành quân theo hướng đã quy định. Toàn Trung đoàn được lệnh thay trang phục từ các bộ quân phục của bộ đội Pathét Lào đang sử dụng (áo cầu vai, mũ lưỡi trai đen) bằng các bộ quần áo bà ba màu đen. Các cán bộ có thêm chiếc mũ cát bằng nhựa màu trắng, đóng giả những viên cai lục bộ, chiến sĩ đóng vai những “cu li” làm đường cho ông chủ Đức Phương. Trung đoàn phó Chu Minh Đông dẫn đầu một đoàn cán bộ cơ quan, đơn vị và phân đội trinh sát đi trước, luồn rừng, leo núi vạch tuyến mở đường. Xác định được đoạn nào, đơn vị đi sau đặt ba lô xuống là thi công luôn đoạn ấy.
 
Trong những ngày đó, thời gian lao động kéo dài tới 15 - 16 giờ/ngày, từ sớm tinh mơ đến lúc nửa đêm, vừa làm vừa ăn cơm ngay trên mặt đường. Có ngày làm thông suốt 24 tiếng đồng hồ, chỉ được phép tranh thủ chợp mắt trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.
 
Thiếu tướng Mạn kể: “Lương thực thiếu, anh em chiến sĩ phải đào thêm củ rừng, măng ăn thay cơm. Lao động vất vả, ăn uống thiếu thốn nên đã có không ít anh em bị kiệt sức, sốt rét mà không có thuốc. Nhiều anh em đã nghĩ ra cách nuốt giun đất hoặc bắt phơi khô rồi nấu nước uống nhưng vẫn không cải thiện được nạn sốt rét bao trùm lên Trung đoàn... Cũng có người đã không chống chọi nổi nên hy sinh dọc đường đi”. Thiếu người nên từ chỉ huy Trung đoàn đến cán bộ cơ quan, cả văn thư đánh máy, liên lạc, y tá đều cầm cuốc, xẻng, choòng, dao ra tham gia mở đường.
 
Sau 38 ngày đêm lao động cật lực, khẩn trương, ngày 3/6/1966 Trung đoàn đã hoàn thành xong tuyến đường dài 204km vượt trước thời hạn 4 tháng 22 ngày. Chiến công này đã được Bộ Tư lệnh 559 tặng ngay danh hiệu “Mở đường thần tốc”. Từ đó, mỗi lần nhắc đến Trung đoàn 98 là danh hiệu “thần tốc” lại vang lên đầy tự hào.
 
Kỳ cuối: Chuyện lạ dưới chân đèo Sa Mù
(Ảnh do Thiếu tướng Võ Sở - Trưởng ban liên lạc Bộ đội Trường Sơn toàn quốc cung cấp)
 
Hà Tùng Long

Những huyền thoại của đường Trường Sơn: Chuyện chưa kể về 18 cô gái Truông Bồn


Giadinh.net - Không được nhắc đến nhiều như 10 cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc hay 12 cô gái ở Truông Bồn nhưng sự hy sinh quả cảm của 18 cô gái là đội viên đội văn nghệ nghiệp dư của đội TNXP số 7, Tổng đội 41 thuộc Ban xây dựng 67 thì những ai từng chứng kiến đều không thể quên.
 
Những người cựu chiến binh năm xưa, mỗi lần nhắc đến đều ví họ là “những cô gái Truông Bồn thứ hai”  nhưng không phải ai cũng biết về họ.
 
Đội văn nghệ này là các anh, chị em được lựa chọn chủ yếu từ các cây văn nghệ của các đội TNXP. Đa số họ đều là những người rất trẻ trên dưới 20 tuổi và đa phần là con gái Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An. (Ảnh: T.L)
 
Bôi dầu mỡ lên người để...thông xe
 
Thiếu tá Trương Đình Minh (Hiện là Phó Tổng biên tập Tạp chí Biển và Bờ) kể, vào những năm 1967 – 1968 những đoạn đường từ Truông Bồn đến Ngã ba Đồng Lộc cho đến Khe Ve, Khe Giao, cầu La Trọng... là những trọng điểm bị địch đánh phá rất ác liệt. Cũng giống như các tuyến đường khác, ở đây có rất nhiều đơn vị TNXP trực chiến ngày đêm, sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo đảm cho xe thông đường ra trận.
 
Đội TNXP tổ 7 (thuộc Ban xây dựng 67 - Tổng đội TNXP 41) có một đội văn nghệ nghiệp dư. Mang danh nghĩa là đội để sinh hoạt, tổ chức cho cơ động, gọn nhẹ chứ quân số của đội cũng gần bằng một tổng đội xây dựng ngày nay. Đội viên đội văn nghệ này là các anh chị em được lựa chọn chủ yếu từ các cây văn nghệ  từ các đội TNXP. Đa số họ đều là những người rất trẻ, chỉ trên dưới 20 tuổi và đa phần là con gái Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An... Bình thường họ vẫn đảm nhiệm vai trò của một TNXP. Vẫn bám đường, thông xe bất kể mưa nắng, ngày đêm. Chỉ những khi có lễ lạt hoặc yêu cầu phục vụ cho chiến dịch thì lãnh đạo mới rút họ lên tập duyệt độ nửa tháng rồi lên đường đi phục vụ.
 
Ông Minh cho hay: “Vì bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt nên ở những đoạn đường này anh chị em TNXP thường hay phải làm ban đêm, lợi dụng ánh trăng để làm vì làm ban ngày sẽ bị máy bay địch phát hiện. Vào những đêm giáp Tết năm 1968, dĩn xuất hiện rất nhiều. Trời càng nhiều mưa phùn thì loại côn trùng này càng sinh sôi, nảy nở. Loài dĩn khi đã bám vào người thường đốt rất đau. Cứ mỗi lần giơ cuốc bổ đất là dĩn lại bám đầy người khiến các cô TNXP ở đây buộc phải dừng làm để đuổi dĩn, bởi vậy mà tiến độ công trình bị chững lại.
 
Để kịp giải phóng xe, các cô đã nghĩ ra cách bôi bùn lên má, lên cổ... Vì lúc đó chỉ có bùn là loại “kem” chống dĩn sẵn có nhất. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng có thời gian xuống tận các bờ mương hay đầm ao để lấy bùn. Thế là các cô bèn nghĩ ra cách xin dầu nhờn, mỡ thải ra từ xe ủi DT75 để bôi lên người tránh họa dĩn bám. Từ đó mỗi lần ra mặt đường, các cô lại mang theo ống bơ đựng đầy dầu mỡ để bôi tránh dĩn. Anh em bộ đội vận tải chúng tôi mỗi khi đi qua đây thấy các cô mặt mày lấm lem dầu mỡ nên đều rất tò mò. Nhìn ai cũng xinh, cũng đẹp mà mặt mày thì lấm lem đầy những dầu mỡ từ má đến cổ thì đã cử người đi tìm hiểu nguyên nhân. Sau khi đã rõ nguyên nhân một số anh em đã cảm động làm thơ để tặng cho họ: “Thương em đôi má bồ quân. Vì chăng con dĩn bôi đen má hồng”.
 
TNXP san lấp hố bom ở Cầu Om (Đô Lương, Nghệ An) năm 1968. (Ảnh: TL)
 
Hy sinh khi dầu mỡ còn lấm lem thân thể
 
Vào khoảng 5h chiều một ngày cuối năm 1968, sau khi đã bảo đảm giao thông cho đoàn xe vận tải an toàn ra mặt trận, các cô đều mệt nhoài. Người ai nấy đều đã thấm ướt mồ hôi và lấm lem dầu mỡ chống dĩn. Vừa rời mặt đường khoảng 200 – 300m định đi về lán trại để tắm rửa, cơm nước thì nghe đồng chí trực báo tin có xe của trung đội công binh do anh Đán làm trung đội trưởng đang bị sa lầy. Vì trước đó, cứ mỗi lần đi qua đây là anh Đán và các đồng chí trong trung đội công binh này thường ghé lại thăm các anh chị em ở đây, rồi lúc thì mang biếu đôi hộp thịt hộp, hôm dăm phong lương khô, lúc thì đôi ba chiếc bắp cải miền Bắc... nên tình cảm giữa các cô TNXP ở đây với trung đội của anh Đán rất thân thiết. Dù đang mệt, lại đói nhưng khi nghe tin như thế, họ liền lập tức quay trở lại.
 
18 cô tay cuốc, tay xẻng hì hục đào bới, co kéo, hò dô đẩy xe ra khỏi chỗ bị sa lầy. Phải vất vả lắm, cả 18 cô gái chân yếu tay mềm mới đẩy được chiếc xe tải chở đầy bom mìn và dụng cụ rà mìn qua khỏi hố lầy. Nhưng xe vừa vượt qua khỏi hố thì có một tiếng bom nổ rầm trời. Chiếc xe may mắn thoát còn 18 cô gái ở phía sau đều hy sinh. Thịt xương họ tan vùi trong đất đá. Cả 18 cô gái TNXP đều đang độ xuân xanh, ai cũng đẹp người đẹp nết lại hát hay, vui vẻ. Các cô đa phần là học sinh, sinh viên, vừa tốt nghiệp cấp 3 là xung phong vào chiến trường, chỉ có một vài cô là mới có chồng.
 
Tượng đài chiến thắng.
 
Ông Minh nhớ lại: “Trong số 18 cô gái đã hy sinh trong vụ nổ bom đêm hôm ấy, tôi nhớ nhất là cô gái tên Hương quê ở Hải Phòng. Hương là cô gái có làn da trắng và nụ cười rất tươi. Đặc biệt là Hương hát rất hay và rất nhiệt tình. Có đợt, đoàn xe của chúng tôi đi qua đúng vào dịp 2/9, anh chị em ở đây đã tổ chức văn nghệ chào mừng ngày Quốc khánh và hôm đó Hương có tham gia một số tiết mục văn nghệ. Giọng hát của Hương hay đến nỗi khi vừa cất tiếng lên là cả khu vực phía dưới sân khấu đông nghịt người bỗng im bặt. Nhất là khi cô hát bài “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” bao giờ mọi người cũng yêu cầu cô phải hát đi hát lại đến hai lần mới chịu cho rời sân khấu. Không ngờ, đó là đêm cuối cùng cô được đứng trên sân khấu và chúng tôi được nghe cô hát lần cuối trong cuộc đời”.
 
Sau này khi có dịp trở lại nơi đây, ông Minh còn được nghe những đồng đội cũ và cả những người dân ở đây kể lại rất nhiều câu chuyện cảm động. Trong đó có câu chuyện về những anh bộ đội viếng 18 cô gái TNXP ở Truông Bồn. Cách sau ngày các cô hy sinh đúng một tháng, đúng vào lúc 5h chiều - thời điểm các cô hy sinh có hai anh bộ đội mới trạc ngoài hai mươi tuổi, mang hương hoa đến chỗ 18 cô gái đã hy sinh thắp hương rồi quỵ xuống đất khóc nức nở.
 
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đến cuối năm 1976 cũng vào một ngày giáp Tết, đúng 5h chiều người dân ở đây lại thấy có hai anh bộ đội, một người cụt tay mang quân hàm trung tá và một anh cụt chân mang quân hàm đại úy. Họ chính là hai người lính năm xưa đã đến viếng 18 cô gái TNXP ở Truông Bồn. Hai người đến đây và ở lại hai ngày. Ngày ngày họ lại mang hương hoa, mâm cỗ ra chỗ 18 cô gái hy sinh thắp hương rồi òa khóc nức nở khiến cho những đứa bé chăn trâu, chăn bò xung quanh cũng cảm động khóc theo.
 
Sau này mọi người mới biết, hai người đàn ông ấy một là chồng và một là người yêu của 2 trong 18 cô đã hy sinh ở đây. Anh bộ đội mang quân hàm Trung tá sau này đã tục huyền với một người khác nhưng vẫn đưa mẹ đẻ người vợ đã hy sinh tại Truông Bồn về phụng dưỡng vì cô là con gái độc nhất. Còn anh bộ đội bị cụt chân thì vẫn ở vậy, chẳng chịu lấy ai.
 
Kỳ tới: Huyền thoại “Trung đoàn thần tốc”
 
Hà Tùng Long

Những huyền thoại của đường Trường Sơn: Huyền thoại đồi Ba Bảy

Con đường Trường Sơn của những chiến công lịch sử, của những con người anh hùng nay đã tròn 50 năm tuổi. Thế hệ của những người lính, những thanh niên xung phong (TNXP), dân công hỏa tuyến… từng bổ những nhát cuốc, nhát xẻng đầu tiên mở nên con đường Trường Sơn huyền thoại nay kẻ còn người mất.
Những người đã khuất thì mãi mãi hóa thân vào lòng đất mẹ, yên nghỉ vĩnh hằng giữa mảnh đất quê hương mà họ từng đổ máu xương để bảo vệ . Riêng với những người đang sống thì ký ức về một thời đạn bom khói lửa, về một thời sự sống cận kề bên cái chết… vẫn như còn vẹn nguyên. Để rồi cứ mỗi lần nhắc đến Trường Sơn là trong họ lại trỗi dậy bao cảm xúc vui buồn lẫn lộn.
 
Khi thực hiện chùm bài về Trường Sơn, chúng tôi có cơ may được gặp rất nhiều người từng là chỉ huy, từng là chiến sĩ, từng là TNXP... đa phần trong số họ nay đã đầu bạc hoa râm, lên ông lên bà nhưng khi được hỏi về Trường Sơn thì không ai là không có chuyện để kể.
 
Một đoạn đường gần khu vực đồi Ba Bảy. Đồi Ba Bảy nằm dọc theo Km12 đến Km 22, từ đường 12A đoạn từ Khe Cấy đến Bãi Dinh (nay thuộc địa phận xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, Quảng Bình), cách ngã ba La Trọng 15km.
 
Một trong số đó là đại tá, nhà thơ, nhà báo Trương Đình Minh. Ông hiện là phó TBT tạp chí Biển và Bờ. Trong kí ức của một người lính như ông Minh - Trường Sơn là nơi rất đỗi ác liệt mà cũng rất đỗi hào hùng. Nơi đây ghi dấu những tháng năm tuổi xanh của ông và cũng chính nơi này ông đã chứng kiến cảnh bao đồng đội ngã xuống. Trong số đó, những “ám ảnh” về sự hy sinh của những người đồng đội ở đồi Ba Bảy (37) là cả cuộc đời này ông không bao giờ có thể quên.
 
Mang quan tài ra trận địa
 
Nhắc đến Trường Sơn là nhắc đến những tên đường, tên đất đã đi vào huyền thoại như: đường 9 Nam Lào, đường 12A, đường 15, đường 18, đường 20 quyết thắng, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Truông Bồn, Ngã ba Đồng Lộc, Hang tám cô... Những Truông Bồn, ngã ba Đồng Lộc, hang Tám cô đã được nhiều người biết đến. Tuy nhiên có một địa danh gắn liền với những chiến công không kém phần oanh liệt, những mất mát đau thương không cùng còn ít được nhắc đến, đó là đồi Ba Bảy. 
 
Từ đường 12A đoạn từ Khe Cấy (km 12) đến Bãi Dinh (km 22) (nay thuộc địa phận xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, Quảng Bình), cách ngã ba La Trọng khoảng 15km có một quả đồi trước đây gọi là đồi Chà Quang, nay được gọi là di tích đồi Ba Bảy. Vốn là đoạn đường có địa thế hiểm trở với  núi cao, vực sâu, suối thẳm nhưng là tuyến đường vận chuyển cơ giới chủ yếu chi viện cho miền Nam và có tính quyết định cho tất cả các chiến dịch. Bởi thế, đoạn đường này thường bị máy bay Mỹ đánh phá rất ác liệt.
 
Để giữ vững tuyến giao thông huyết mạch chi viện cho tiền tuyến, ngày 6/5/1965, 182 TNXP của huyện Tuyên Hoá tuổi vừa mười chín đôi mươi, trong đó có 70 chiến sĩ nữ, được tổ chức thành một đại đội lấy tên là C759, biên chế thành 8 tiểu đội để bổ sung lực lượng cho công trường 12A. Lúc này trên tuyến đường 12A đã có hơn 500 công nhân của các đơn vị khác, đang ngày đêm bảo đảm giao thông từ Khe Ve đến Cổng Trời. C759 được cấp trên giao nhiệm vụ quản lý 10 km đường từ Khe Cấy đến Bãi Dinh, cứ 1 km đường lại có một tiểu đội chốt giữ.
 
Mặc cho quốc Mỹ đánh phá suốt ngày đêm nhưng anh chị em TNXP vẫn bám đường, thông xe, không rời trận địa.
 
Tại km 21 đồi Cha Quang, trong 47 ngày đêm (từ ngày 18/5 đến 3/7/1966), địch đã trút xuống đây hàng ngàn tấn bom đạn, nhằm vùi lấp con đường với ý đồ cắt tuyến chi viện. Chúng đánh phá suốt ngày đêm, khiến cho các chiến sĩ TNXP C759 phải di chuyển vào rừng rậm, dựng lán trại tạm bợ, tiếp tục bám đường thông xe, địch đánh vào doanh trại, đơn vị lại di chuyển ra trảng cỏ tranh, hoặc các đồi trọc ven đường, ven bờ suối. Ý chí kiên cường và quyết tâm bám đường của C759 đã trở thành khẩu hiệu quen thuộc thời đó: “Địch đánh rừng già ta ra rừng non/Địch đánh rừng non, ta ra đồi trọc/Địch đánh đồi trọc, ta ra bám đường”.
 
Một hình ảnh hết sức cảm động mà cho đến bây giờ ông Minh vẫn không quên được đó là những lần tận mắt chứng kiến các chiến sĩ TNXP mỗi khi ra trận lại mang theo quan tài. “Vì địch đánh ghê quá nên mỗi buổi sáng trước khi ra làm đường, anh chị em TNXP đều mang theo từ 5 – 6 quan tài. Đây là “nỗi ám ảnh” lớn lao mà trong cả cuộc đời này tôi không thể nào quên được. Quan tài mang theo để khi đang trong quá trình làm nhiệm vụ có đồng chí nào hy sinh sẽ bỏ vào quan tài, tiếp tục làm đường thông xe sau đó mới mang về an táng. Trước khi bắt tay vào làm nhiệm vụ họ dám đứng cạnh những chiếc quan tài để tuyên thệ một cách dõng dạc những lời quyết tử cho tổ quyết quyết sinh. Và dù biết mình có thể hy sinh trong gang tấc nhưng ai cũng cảm thấy hăng hái, làm hết mình, xem mọi việc đều là chuyện nhỏ...” – ông Minh cảm động nói.
 
Huyền thoại  đồi Ba Bảy
 
Vào ngày 3/7/1966, trong khi anh chị em TNXP đang bạt đồi, lấy đất chuyển lấp một đoạn đường cua tay áo mà bom Mỹ vừa rải xuống lúc 5 giờ sáng. Anh chị em đang động viên nhau bằng bất cứ giá nào cũng phải lấp hết hố bom, san bằng được đoạn đường này để 12 giờ đêm nay 30 xe vận tải có thể hành quân ra mặt trận. 5 tiểu đội TNXP C759 và 1 trung đội bộ đội công binh được cử đến ứng cứu đã dùng mìn phá đá để san lấp mặt đường.
 
Đến 22 giờ cùng ngày, đường gần xong, anh chị em chuẩn bị bắn súng báo lệnh thông đường thì máy bay địch ào ào ập đến. Hàng loạt bom đổ xuống đúng vào trận địa anh em đang thi công, làm hàng nghìn mét khối đất đá sập xuống lấp kín 200m đường. Đất đá bay ào ào, mù mịt... Sau trận bom ác liệt đó có 50 nữ TNXP và 10 chiến sỹ công binh bị thương. Ngoài ra có 9 nữ TNXP hy sinh, trong đó có thi thể của 5 người bị đất vùi lấp.
 
Để duy trì những thông suốt cho những tuyến đường rất nhiều chiến sỹ đã phải ngã xuống.
 
Ngoài số chiến sĩ hy sinh, các chiến sĩ bộ đội và TNXP bị thương được đưa ra khỏi trận địa, đi cấp cứu ở bệnh viện tiền phương. Các chiến sĩ của C759 đã kịp thời đào bới cứu được đồng chí Nguyễn Thị Sâm và Đoàn Thị Hòa, còn lại 7 đồng đội vẫn bị vùi sâu dưới khối đất đá khổng lồ. Không kể tới hàng chục tấn bom đang rơi, các chiến sĩ C759 cùng với cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đến ứng cứu đã dồn hết sức lực để tìm kiếm thi hài các liệt sĩ, nhưng do khối lượng đất đá quá lớn nên mọi việc rất khó khăn.
 
Tình thế lúc này thật cấp bách, đường tắc khiến đoàn xe vận tải bị ùn lại, nếu chờ lấy thi thể của đồng đội, thì máy bay Mỹ sẽ phát hiện ra đoàn xe và tập trung đánh phá, lúc đó thiệt hại sẽ lớn hơn gấp nhiều lần. Nén đau thương, các chiến sĩ TNXP C759 lại hô vang khẩu hiệu “máu C759 có thể đổ nhưng đường C759 không thể bị tắc”, toàn đơn vị quyết định vừa san đường mở lối cho xe qua, vừa tìm kiếm thi hài đồng đội.
 
Đến đêm 6/7/1966, sau khi đã nỗ lực hết mình, đơn vị đã tìm thấy thi thể của hai đồng chí Nguyễn Thị Thường và Cao Thị Thường, đồng thời phát hiện liệt sĩ Cao Xuân Châu đang bị khối đá đè ép lên đầu, tư thế chân đang ngồi đào hố chôn bộc phá... do tình hình quá cấp bách, đơn vị buộc phải nén chặt nỗi đau phát lệnh thông xe. Sau khi thông đường, toàn đơn vị tiếp tục đào bới, tìm kiếm thi thể của những đồng đội còn lại.
 
Đến đêm 8/7 tìm thấy thi thể của liệt sĩ Nguyễn Khắc Hiếu và Trần Trọng Khuyến và đến 11/7/1966, đơn vị đã tìm thấy thêm thi thể của 6 chiến sĩ, riêng đồng chí Trần Văn Trường vẫn nằm dưới lòng đường. Mãi đến năm 1971, khi máy ủi san hạ độ dốc mặt đường mới phát hiện được hài cốt đồng chí Trần Văn Trường cùng chiếc đèn pin đeo bên mình khi ra trận.
 
 Để ghi nhớ chiến công vẻ vang và sự hy sinh anh dũng của các đồng đội, đơn vị C759 đã quyết định lấy ngày 3/7/1966, để làm tên gọi cho ngọn đồi mà các anh chị đã ngã xuống.
Ảnh tư liệu trong bài do Thiếu tướng Võ Sở- Trưởng ban liên lạc bộ đội trường sơn toàn quốc cung cấp.
 
Kỳ 2: Chuyện chưa kể về “18 cô gái Truông Bồn”
 
Hà Tùng Long

Quận Tây Hồ, Hà Nội: Nằm chiếu massage người nhiễm điện

Sau 6 tháng sử dụng chiếu massage của nhãn hiệu Migun xuất xứ từ Hàn Quốc, bà Hoàng Ngọc Chắn (75 tuổi) ở Tây Hồ, Hà Nội mới phát hiện trong người mình có điện. Nguồn điện có thể thắp sáng cả một bóng đèn ngủ.
Sự việc dù đã được dàn xếp ổn thỏa giữa nhà cung ứng sản phẩm với người tiêu dùng nhưng việc cơ thể người phát điện vẫn chưa được làm sáng tỏ.
 
Ông Đặng Văn Kiêu (80 tuổi) nghi ngờ vợ mình bị nhiễm điện nên đã dùng bút thử điện dí lên người vợ thì thấy đèn sáng.
 
Nằm chiếu massage, người phát điện
 
Bà Hoàng Ngọc Chắn – 75 tuổi (Tây Hồ, Hà Nội) cho biết, một lần tình cờ đi xe bus xuống thăm con ở đường Hoàng Quốc Việt, bà gặp một người phụ nữ đi cùng giới thiệu cho biết có địa chỉ tập Migun gần chợ Bưởi. Nghe người phụ nữ đi cùng giới thiệu là tập Migun và có thể chữa được nhiều bệnh và hiện tại có rất đông người già đến đó nằm thử để chữa bệnh nên bà Chắn cũng đến nằm thử ở đó hai tháng.
 
“Mỗi lần đến nằm thử ở đó, tôi thấy các nhân viên chăm sóc rất tận tình, hỏi han niềm nở và cũng không quên tiếp thị đủ thứ về sản phẩm. Nhưng sau này tôi mới biết chỉ những người nào nhìn có vẻ khá giả, có khả năng mua sản phẩm thì mới được các nhân viên ở đây “ưu tiên” như thế. Chúng tôi đang là những người có bệnh nên nghe nói thế thì mừng lắm. Tôi về kể lại cho nhà tôi và các con nghe thì được cả nhà động viên nên mua một cái mang về nhà nằm cho đỡ mất công đi lại vất vả, nhất là sắp đến mùa đông” – bà Chắn chia sẻ.
 
Thương mẹ, các con quyên góp được một ít và ông bà đã dồn toàn bộ số tiền dành dụm được để mua một chiếc máy Migun HY- 7000 và giường Mg-7000 (xuất xứ từ Hàn Quốc) của Công ty TNHH Migun Việt Nam ở địa chỉ tầng 3, chợ Bưởi, Hoàng Hoa Thám, Hà Nội với tổng trị giá bộ sản phẩm lên đến 4.190 USD.
 
Thậm chí ông Kiêu dùng cả bóng đèn ngủ dí lên bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể của vợ mình đèn ngủ cũng bật sáng.
 
Theo như lời quảng cáo trong tờ rơi của Công ty Migun Việt Nam thì với hệ thống sản phẩm massage nhiệt Migun có thể hỗ trợ sức khỏe cho một số người bị bệnh về đường ruột, huyết áp, thần kinh, nhức mỏi cơ thể... Riêng tấm chiếu nhiệt sức khỏe Migun có 8 lớp bền và 1 lớp cách điện an toàn, có thể sinh ra một lượng lớn ion âm, các tia bức xạ hồng ngoại xa, trung hoàn toàn sóng điện từ có hại... làm thư giãn các động mạch, tĩnh mạch, phục hồi lưu thông máu, cải thiện hệ miễn dịch...
 
Thế nhưng càng nằm thì bà Chắn thấy sức khỏe của mình càng yếu đi. Bà bị sốt cao liên tục trong 12 ngày mà không rõ nguyên nhân. Đến lúc con dâu đến đưa đi khám ở bệnh viện thì ngất xỉu luôn ở bệnh viện. Khi khỏi sốt trở về nhà thấy sức khỏe giảm sút đi rõ rệt. Trước có thể đi thể dục lòng vòng được ở ngoài, nay thì chỉ đi lòng vòng trong nhà thôi là đã thấm mệt, tay chân run lẩy bẩy, ăn uống không ngon... thậm chí bà còn phát hiện trong người xuất hiện một số hiện tượng lạ. Chồng bà là ông Đặng Văn Kiêu (80 tuổi) nghi ngờ vợ mình bị nhiễm điện nên đã dùng bút thử điện dí lên người vợ thì thấy đèn sáng. Thậm chí ông dùng cả bóng đèn ngủ dí lên bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể của vợ mình đèn ngủ cũng bật sáng.
 
Ông Kiêu bàng hoàng kể lại: “Mùa đông vừa rồi trời rất lạnh, bà nhà tôi cứ bảo tôi nằm chung chiếu cho ấm nhưng tôi không nằm. Chỉ có một hôm trời lạnh quá, bà nhà tôi cứ bảo mãi thì tôi mới ghé lưng nằm lên nhưng vừa nằm được một lúc thì thấy lưng tê tê nên tôi không nằm nữa. Nhưng vì nó không giật nên chúng tôi cũng không để ý mà bà tôi nằm lại càng nhiều. Mâu thuẫn ở chỗ là khi cắm điện vào chiếu thì cả người và chiếu đều không có điện nhưng khi nó nóng lên rồi rút điện ra thì trên cơ thể bà nhà tôi lại có điện. Chúng tôi cứ nghĩ rằng, tắt điện đi thì sẽ an toàn nhưng không ngờ tắt điện thì cơ thể lại có điện, đó là điều cực kỳ nguy hiểm. Tôi còn đảo cả phích cắm và làm đủ mọi thí nghiệm nhưng kết quả vẫn không hề thay đổi. Ngay sau đó tôi đã không cho bà nhà tôi đụng đến tấm chiếu đó nữa”.
 
Cả hai ông bà hốt hoảng gọi điện đến ngay Công ty Migun Việt Nam – nơi cung ứng sản phẩm và công ty này có cử người đến tìm hiểu, làm thí nghiệm trên cơ thể của chính họ cũng xảy ra một hiện tượng tương tự. Theo ông Kiêu thì Công ty Migun Việt Nam có cử người đến tìm hiểu và xem xét nhưng vẫn chưa đưa ra được một lời giải thích cụ thể nào.
 
 
Người phát điện chỉ là chuyện bình thường?!
 
Để khắc phục hậu quả, nhà cung ứng sản phẩm đã chấp nhận nhận lại chiếc chiếu massage của bà Chắn về để tìm hiểu thêm và trả lại tiền. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với chúng tôi cả hai ông bà Chắn vẫn chưa hết hoài nghi: “Không biết nhà cung ứng sản phẩm có biết điều này hay không nhưng xét ở góc độ nào thì họ vẫn có phần sơ xuất. Có lẽ là chính họ cũng không biết trước được sự việc này nên họ đã hoàn toàn bất ngờ khi nghe chúng tôi báo tin. Nhưng nếu như thế thì chứng tỏ họ đã không kiểm tra sản phẩm kỹ càng trước khi bán cho khách hàng nên đã dẫn đến sự việc đáng tiếc này. Nguy hiểm hơn nữa là bây giờ họ cứ bán ra mà không có những khuyến cáo cụ thể nào cho người tiêu dùng biết để tránh xảy ra hiện tượng như chúng tôi...”.
 
Ông Nguyễn Anh Dũng - Giám đốc Công ty TNHH Migun Việt Nam.
 Trao đổi với ông Nguyễn Anh Dũng – Giám đốc công ty TNHH Migun Việt Nam về vấn đề này thì được ông cho hay: “Việc cơ thể bà Chắn phát điện chỉ là một hiện tượng tĩnh điện bình thường thôi chứ không có gì to tát cả. Khi nghe tin báo của ông bà Chắn chúng tôi đã liên hệ với nhà sản xuất bên Hàn Quốc và được họ cho biết việc cơ thể người có điện khi sử dụng sản phẩm là hoàn toàn bình thường bởi đó là nguồn tĩnh điện không di chuyển hay lan truyền sang cho người khác. Việc này không hề gây ảnh hưởng đến sức khỏe như một số người đã ngộ nhận. Trước khi được nhập khẩu về Việt Nam tiêu thụ sản phẩm này đã được kiểm nghiệm tại Viện Vật liệu xây dựng tại Hàn Quốc. Ở Hàn Quốc có được phép lưu hành thì chúng tôi mới dám nhập khẩu về đây. Việc bà Chắn bị ốm hay yếu hơn có thể là do tuổi cao nên sức khỏe yếu đi... chứ không phải do sử dụng sản phẩm. Bản thân ông bà cũng thừa nhận rằng việc sức khỏe yếu đi là do nhiều nguyên nhân chứ không phải do sử dụng sản phẩm...”.
 
Còn theo PGS.TS Hà Hoàng Kiệm, Chủ nhiệm bộ môn Lý – Liệu Học viện Quân Y: “Việc phát hiện trong cơ thể người có điện sau một thời gian sử dụng chiếu massage là do cơ thể người đó đã bị nhiễm từ. Có thể ví con người như một dây dẫn điện và chiếu massage là nguồn dẫn. Nếu không có những dụng cụ cách ly hoặc có các xử lý kỹ thuật trong cấu tạo của chiếu để tránh cho người sử dụng không bị nhiễm từ trong quá trình sử dụng thì chiếu đó là không an toàn”.
 
“Xét dưới góc độ về sức khỏe thì việc nhiễm điện nhiều như thế sẽ tạo nên sự mất cân bằng trong cơ thể và không hề tốt cho sức khỏe chút nào. Về lâu dài nó có thể sẽ gây nên những hiện tượng mệt mỏi, suy nhược thần kinh...
 
Theo tôi, những dạng giường, đệm hay chiếu massage như thế chỉ có tính xoa bóp nhằm làm co giãn cơ bắp, huyệt đạo bên ngoài chứ không có tác dụng đi sâu vào cơ thể, cho nên không nên quá lạm dụng nó. Nếu có điều kiện nên trị liệu bằng các phương pháp xoa bóp bằng tay sẽ tốt hơn nhiều. Còn nếu khi đã sử dụng sản phẩm đó thì nên sử dụng có chừng mực và sau khi sử dụng xong thì nên tháo dày dép ra, đi chân trần trong nhà từ 30 phút đến 45 phút để chân tiếp đất và giải phóng nguồn điện năng bị tích tụ trong cơ thể”.
 
Hà Tùng Long

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011

Hà Tĩnh: Điều ít biết về ngôi chùa in dấu chân tiên

Chùa Chân Tiên tọa lạc lưng chừng đỉnh Am Tiên là một trong những ngôi chùa cổ khá nổi tiếng về sự linh thiêng ở Hà Tĩnh. Người ta biết đến ngôi chùa này nhiều hơn bởi xung quanh chùa có nhiều tảng đá với những dấu chân kỳ lạ gắn liền với nhiều huyền thoại về các nàng tiên nữ.
Những dấu chân kỳ lạ trên mặt đá

Trong 99 đỉnh núi của dãy Ngàn Hống (tức núi Hồng Lĩnh) thì đỉnh Am Tiên (thuộc địa phận xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh) xưa nay vẫn được người đời tôn xưng là “đệ nhất kỳ quan”. Không chỉ đẹp bởi hình sông thế núi kỳ vỹ, mỹ lệ, Am Tiên còn được xem là nơi dừng chân của các nàng tiên nữ chốn Tiên giới trong những lần du ngoạn trần thế. Bởi thế, bao quanh đỉnh núi này là hàng trăm câu chuyện mang màu sắc huyền bí mà cho đến bây giờ vẫn chưa thực sự tìm ra lời giải đáp đích xác.

Trên lưng chừng của đỉnh Am Tiên hùng vĩ có chùa Chân Tiên là ngôi chùa cổ, được xây dựng vào đời nhà Trần (thế kỷ XIII). Sở dĩ chùa mang tên Chân Tiên bởi khởi thủy, ngay chỗ chùa được xây dựng, trên một tảng đá rộng lớn, bằng phẳng tự nhiên xuất hiện những “dấu chân” hết sức kỳ lạ.
 
Chùa Chân Tiên tọa lạc lưng chừng của đỉnh Am Tiên, được xây dựng vào đời nhà Trần (Thế kỷ XIII)

Vượt qua hàng trăm bậc đá xanh tròn trĩnh, dưới những hàng thông tự nhiên cao vút, ông Trần Quốc Tín (74 tuổi) – người đã có tới 16 năm trụ trì ở chùa Chân Tiên dẫn chúng tôi đến bên tảng đá có “dấu chân” và vó ngựa của tiên nữ chốn tiên giới để lại trong một lần dừng chân ngoạn cảnh nơi đây.

Theo quan sát, nằm cách nền chùa Chân Tiên hiện nay khoảng 80m về phía đông, trên mặt một tảng đá hoa cương bằng phẳng ngay giữa dòng suối Ngọc, có hai vết in lõm vào mặt đá. Một vết rất giống bàn chân phải của một người phụ nữ bởi gót chân thon tròn, nhỏ nhắn, có chiều dài gần 40cm, rộng 18cm. Theo ông Trần Quốc Tín thì đây chính là vết chân của “Tiên nữ nhà Trời”. Cũng nằm trên tảng đá đó, cách vết chân Tiên khoảng 20cm, có một vết lõm rất giống với dấu chân ngựa (vó ngựa), có kẽ móng rõ ràng. Vó ngựa này có chiều dài gần 25cm, rộng 16cm.

Ông Tín cho biết: “Truyền thuyết có kể lại rằng, ngày xưa có một đoàn tiên nữ nhà trời, sau khi xin phép mẫu Cửu Trùng xuống thăm thú chốn hạ giới đã chọn đỉnh Am Tiên làm nơi dừng chân. Bởi Am Tiên lưng dựa vào núi, mặt hướng ra biển, ngày đêm thông reo, cảnh vật hiền hòa lại còn có dòng suối Ngọc nước trong vắt bốn mùa, cảnh sắc không đâu đẹp hơn. Một số tiên nữ, sau khi vãn cảnh núi sông, hang động... đã rủ nhau xuống bàu tiên ngay trước mặt đỉnh Am Tiên tắm, rồi lại rủ nhau lên một tảng đá cạnh hồ ngồi đánh cờ. Còn một số tiên nữ vì mê mải với cảnh hoa thơm cỏ lạ, suối thác hiền hòa nên chẳng chịu rời. Rồi có một nàng tiên, trong một lần đuổi theo con bướm vàng 6 cánh đã vô tình dẫm phải lông của một con nhím. Chân bị đau, nàng không thể đi được nên đã phải dùng ngựa để về Trời. Trước khi về, các nàng tiên khác đã dùng nước suối Ngọc để rửa chân cho nàng và chẳng may gót ngọc in dấu trên mặt đá cùng dấu chân ngựa thần. Từ đó, người dân đã xây chùa và đặt tên cho chùa là chùa Chân Tiên để ghi nhớ dấu tích này...”.
 
Ông Trần Quốc Tín -  người có 16 năm trụ trì tại chùa Chân Tiên bên "Ngài" Thạch Kim Quy.

Rõ ràng câu chuyện trên chỉ là truyền thuyết nhưng sự bí ẩn và hấp dẫn của những gì liên quan đến câu chuyện như: suối Ngọc, giếng Tiên, bàu Tiên, đá bàn cờ, dấu chân tiên và vó ngựa... thì hiện vẫn còn khá vẹn nguyên. Suối Ngọc do thời gian lâu ngày nước không còn được nhiều như ngày xưa nhưng giếng Tiên thì vẫn bốn mùa đầy nước, trong vắt như ngày xưa. Nhiều người dân không quản núi cao, vượt qua hàng trăm bậc đá gánh nước từ giếng Tiên về dùng và xem như đó là một thứ nước khoáng thiên nhiên có thể giúp họ loại bỏ được những độc tố trong cơ thể.

Báu vật thiên nhiên bị bỏ quên

Ngoài hai vết chân kỳ lạ trên, cách đó khoảng 15m về phía nam còn có một dấu chân to lớn hơn, với đầy đủ hình hài 5 ngón chân và một gót chân lõm sâu cũng trên một tảng đá bằng phẳng. Vết chân này được người dân ở đây cho hay là vết chân của ông Bành Tổ - người đã có công gánh đá ngăn sông để người dân có thêm đất cấy trồng. Cách đỉnh Am Tiên khoảng 3km, về phía Tây Nam, trên một tảng đá ở đỉnh Bồng Sơn người ta cũng phát hiện ra một “dấu chân” có hình hài giống y hệt dấu chân này. Từ đó, người ta cho rằng hai dấu chân này là hai bàn chân của ông Bành Tổ được nhắc đến trong dân gian một huyền thoại: ông Bành Tổ sau khi mệt mài gánh đá ngăn sông, một lần mỏi mệt quá nên ngồi nghỉ ở đỉnh Am Tiên. Sau khi đã hồi sức ông đứng dậy định tiếp tục công việc nhưng vừa bước chân ra thì biến thành người khổng lồ do đó mà chân phải lưu dấu ở đỉnh Am Tiên còn chân trái in dấu tận đỉnh Bồng Sơn, cách đó tới 3km.
 
Trên mặt một tảng đá hoa cương bằng phẳng ngay giữa dòng suối Ngọc, có hai vết in lõm vào mặt đá, được xem là của Tiên nữ và ngựa của nàng.
 
Cạnh dấu chân ông Bành Tổ còn có một chú rùa đá dài gần 1,5m, chiều ngang mai rùa rộng gần 90cm, với đầy đủ đầu, mắt và mai. Theo ông Trần Quốc Tín thì đó chính là “Ngài” Thạch Kim Quy có từ thời nhà Lý. Ông Tín cho biết: “Trong một số bản văn tự bằng chữ Hán của làng trước đây có nhắc đến Ngài Thạch Kim Quy nhưng do hồi đó tôi còn nhỏ, không để ý đến. Sau này khi khôn lớn, tìm lại các văn tự thì đã bị mất hết. Tuy vậy tôi đã để tâm đi tìm con rùa đá nhiều lần mà vẫn chẳng có duyên tìm thấy. Mãi đến tận giờ Ngọ của một ngày hè năm 2004, trong một lần ngồi Thiền tọa gần giếng Tiên thì tôi phát hiện ra “Ngài” đang nép mình cạnh một gốc thông già. Tôi hết sức vui mừng và cho lập bát hương thờ tạm “Ngài” ở đây...”.

Điều kỳ lạ là dù xuất hiện từ rất lâu đời, nhưng qua thời gian những vết tích này dường như không hề bị biến đổi và vết tích nào cũng giống như thật mà không hề có chút tác động nào từ bàn tay con người. Tuy nhiên, mặc dù đã được xếp hạng là Di tích cấp Quốc gia năm 1995 nhưng cho đến nay những vết tích nằm trong quần thể chùa Chân Tiên, được xem là “hiện tượng” độc đáo, duy nhất có này chỉ được trông nom một cách tự phát bởi những người dân sở tại mà chưa có những phương thức bảo quản đúng tầm với một Di tích cấp Quốc gia.

Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, ông Nguyễn Khắc Duyên – trưởng ban văn hóa xã Thịnh Lộc cho biết: “Những vết tích có trên đỉnh Am Tiên quanh chùa Chân Tiên đều đã có từ rất lâu đời và mọi người ai cũng có thể nhìn thấy rõ. Những vết tích đó có phải là dấu chân tiên hay chỉ là lời truyền thuyết huyễn hoặc cho đến nay chúng tôi vẫn chưa dám khẳng định vì chúng tôi chưa đủ khả năng để nghiên cứu, tìm hiểu mà cần phải có sự phối kết hợp của nhiều ban ngành. Chính quyền địa phương đã lập nên một ban quản lý di tích và phối hợp thường xuyên với người dân để trông nom và giữ gìn quần thể chùa Chân Tiên trong khả năng và giới hạn của mình...”.
 
Vết chân được xem là của ông Bành Tổ với đầy đủ hình hài 5 ngón chân và một gót chân lõm sâu trên một tảng đá bằng phẳng.

Đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Tĩnh, ông Võ Hồng Hải cũng cho biết: “Sở văn hóa, bảo tàng tỉnh đã có những nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề này từ lâu và vẫn cho rằng đó chỉ là những hiện tượng tự nhiên độc đáo, kỳ lạ được truyền thuyết dân gian gắn lên những màu sắc huyền bí. Sở cũng đã chỉ đạo cho chính quyền sở tại có những phương thức bảo vệ hợp lý để gìn giữ những nét độc đáo này. Trước đây, đã có một dự án quy hoạch phát triển du lịch ở vùng này nhưng do có nhiều lý do nên dự án này chưa được thực thi. Trên cơ sở dự án cũ, năm nay Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh nhà sẽ quyết tâm hoàn thành dự án này và đưa tất cả các hạng mục cần được bảo vệ, phát triển vào trong một chỉnh thể theo đúng tầm của chúng”.
Hà Tùng Long
Bài đã đăng báo Gia đình & Xã hội Cuối tuần, số ra ngày 4/6/2009

Nhảy Tapdance bắt đầu "nóng" ở Việt Nam

Tapdance – môn nghệ thuật từng gây sốt trong giới trẻ phương Tây những năm trước đây đang bắt đầu “nóng” tại Việt Nam. Đây là môn nghệ thuật độc đáo, vui nhộn nhưng rất đặc thù nên không phải ai cũng đến được với nó.
Để giữ nguyên được “đội hình” và được biết đến như hôm nay, những chàng trai của nhóm The First Tapdance (nhóm tapdance duy nhất tại Việt Nam) đã trải qua không biết bao nhiêu khổ luyện và cả những lần đấu tranh tư tưởng.
 
Tapdance là gì?
 
Tapdance có thể hiểu là một môn khiêu vũ thể thao (Dance Sport) có sự kết hợp giữa hình thể và âm thanh. Tuy nhiên, sự khác biệt với các môn khiêu vũ khác là tiếng động được phát ra từ đôi chân. Tiếng động của tapdance xuất phát từ các động tác đập xuống sàn nhà bằng mũi, đế giày đóng bằng sắt của các vũ công.
 
778889466_dance1
 
Giày để nhảy tapdance là một loại giày rất đặc biệt, được làm bằng loại da mềm. Mũi và đế giày được gắn 2 miếng inox hoặc nhôm tổng hợp gọi là cá (tiếng Anh gọi là Tap). Hai miếng cá này sẽ được vít chặt vào đáy giày bằng loại đinh vít chuyên dụng.
 
Ở phương Tây, lịch sử ghi nhận điệu nhảy này bắt nguồn từ các tập tục diễn xướng mang tính nghi lễ của các thổ dân châu Phi. Sau này, đến thời kỳ chiếm hữu nô lệ, những người nô lệ châu Phi lại sử dụng điệu nhảy này như một thứ ngôn ngữ thay cho tiếng trống và nhạc cụ để liên lạc hay ra hiệu cho nhau. Đến khoảng giữa thế kỷ 19, ở Mỹ và khu vực Bắc Phi, tiếng động này đã phát triển thành tapdance và phổ biến trên toàn thế giới cho đến ngày nay.
 
Hiện nay, tuy không trở thành một phong trào sôi nổi như hiphop, breakdance... xong tapdance vẫn được rất nhiều người trên thế giới đam mê và trở thành một môn nghệ thuật được đào tạo bài bản.
 
Nhìn chung các điệu tapdance ở Việt Nam, Mỹ hay ở các nước phương Tây đều khá giống nhau do đều theo một điệu thống nhất.
 
1000962234_dance3
Cả nhóm đang ghép nhạc để tạo nên một điệu nhảy bài bản trước khi chính thức biểu diễn...  (Ảnh: H.T.L)
 
“Biểu diễn” nhạc bằng chân và giày
 
Anh Nguyễn Tất Long, một tapdancer khá có tiếng ở Việt Nam hiện nay cho biết: “Kỹ thuật của tapdance rất khó. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố và để có được những động tác điêu luyện, tapdancer phải trải qua nhiều bài tập từ cơ bản đến nâng cao. Mỗi bài tập như thế có thể kéo dài hàng tuần, thậm chí hàng tháng tùy thuộc vào năng khiếu và sự khổ luyện của người tập. Tuy nhiên, mỗi bài nhảy đều phải đảm bảo được hai yếu tố: nhìn và nghe. Khán giả không chỉ nhìn thấy người nhảy biểu diễn các vũ điệu mà còn nghe thấy tiếng nhạc phát ra từ những vũ điệu ấy”.
 
1699438272_dance2
Trên thế giới, tapdance được chia ra nhiều thể loại, trường phái tương ứng với từng loại sân khấu biểu diễn hoặc âm nhạc đi kèm. Mặc dù khi mới tập, các vũ điệu, động tác đều hoàn toàn tập chay. Mỗi người sau khi được xem một động tác biểu diễn qua đĩa DVD hoặc qua clip sẽ tự hình dung rồi tập một mình. Đến khi cảm thấy đã thuần thục mới ghép nhóm để tập cho đồng đều. Và khi đã tập hết các động tác, cả nhóm cảm thấy có thể ghép nhạc để tạo nên một điệu nhảy bài bản thì lúc đó âm nhạc mới được sử dụng như một thứ “gia vị” để bài biểu diễn thêm hoàn hảo.
 
Trong các trường phái tapdance, tapjazz (nhảy theo phong cách nhạc jazz) có vẻ như dễ biểu diễn nhất. Còn đối với trường phái Irisk dancing, nhảy theo phong cách châu Âu với những động tác thể hiện sự quý phái của tầng lớp quý tộc, chỉ nhảy bằng đôi chân mà hầu như không vận động tay là khó nhất. Trường phái này được nhảy trên nền nhạc dân gian như của Ireland, Nga, hoặc flamenco của Tây Ban Nha... Nhưng khi vào Việt Nam, các tapdancer Việt Nam đã biến tấu hoặc thuần Việt bằng cách “quyện” các điệu nhảy hiện đại vào âm nhạc truyền thống. Bởi thế, các bài tapdance của Việt Nam rất hiện đại nhưng cũng rất gần gũi, thân quen.
 
1712345218_dance4
Thành viên The First Tap Dance là nhóm duy nhất đi tiên phong trong việc trình diễn tapdance tại Hà Nội.
 
Chân dung các  tapdancer  Việt Nam
 
Tapdance có mặt tại Việt Nam từ  năm 2000 do một số vũ công nước ngoài mang đến. Theo anh Tất Long, người Việt đầu tiên tiếp cận với tapdance và truyền lại cho anh chính là anh Phúc Dĩ – một diễn viên múa.
 
Hiện ở Hà Nội chỉ có “The First Tapdance” là nhóm duy nhất đi tiên phong trong việc trình diễn tapdance tại Hà Nội. Mới đầu, khi được xem biểu diễn, rất nhiều người theo học nhưng chỉ được vài buổi là họ bỏ ngay vì không theo nổi. Mang tiếng là nhóm nhưng chỉ có 6 thành viên, người nhiều tuổi nhất là Tuấn Đức sinh năm 1978 – là giảng viên Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và người ít tuổi nhất sinh năm 1986.
 
Tuy nhiên, người đam mê và gắn bó với tapdance lâu nhất lại là Nguyễn Tất Long, sinh 1979 vốn là họa sĩ. Hàng ngày, mỗi người đều có những công việc khác nhau nhưng cứ sau giờ tan sở là họ lại về các nơi tập quen thuộc như: vườn hoa Con cóc, Cung văn hoá Lao động và hội trường Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội để tập. Bình thường mỗi ngày chỉ tập 2 tiếng, nhưng khi có khách đặt hàng để phục vụ cho các sự kiện, họ có thể tập đến tận khuya. Dù chỉ mới thành lập nhóm được mấy năm nhưng họ đã từng tham gia biểu diễn cho các sự kiện lớn như: Trí tuệ Việt Nam, Đối thoại 07, Hành trình văn hóa, Bệ phóng tài năng...
 
Là nhân viên của nhà hát nhạc nhẹ TW, trong một lần vào mạng xem chương trình Hành trình văn hóa của VTV có tiết mục biểu diễn tapdance của anh Nguyễn Tất Long, Hoàng Minh Trung thấy môn nghệ thuật cuốn hút lạ lùng. Thế là ngay hôm sau, Trung tìm bằng được nơi tập luyện của nhóm tapdance và xin được gia nhập.
 
Từ đó đến nay, Trung đã gắn bó với tapdance được 3 năm và hầu như ngày nào Trung cũng “ăn ngủ” với tapdance. Trung kể: “Mới đầu làm quen với tapdance khổ vô cùng. Khớp chân bình thường rất cứng, nhưng tập tapdance đòi hỏi khớp chân phải dẻo để thực hiện các động tác nhanh theo nhịp nên ngoài thời gian tập với nhóm, tối về hoặc sáng ngủ dậy tôi phải tập thêm rất nhiều. Đã có ý định bỏ tập mấy lần nhưng cuối cùng không được vì thấy ngứa ngáy tay chân ghê gớm...”.
 
Ai muốn theo đuổi tapdance, ngoài đam mê, năng khiếu, đòi hỏi phải có một sức khỏe thật tốt. Ở Việt Nam, dù nhóm đã cố gắng đưa môn nghệ thuật này trở thành phong trào nhưng vẫn chưa thực sự thành công. Điều này có thể là do cách thưởng thức nghệ thuật ở Việt Nam khác với nước ngoài. Bên cạnh đó, tapdance cũng rất kén sân khấu. Để biểu diễn được tapdance phải có sàn gỗ và hệ thống âm thanh cực tốt.
 
                                                                                                                                 Hà Tùng Long 
Bài đã đăng báo Gia đình & Xã hội cuối tuần, số ra ngày 16/4/2009
 
 


Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Bí ẩn đường hầm xuyên núi Bà Chúa Kho

Mỗi năm đền Bà Chúa Kho đón hàng ngàn khách thập phương về tham quan, hành lễ. Ít ai biết được, đằng sau ngôi đền khang trang đó là một đường hầm bí mật nằm sâu trong lòng núi, xuyên từ đầu núi ra tận bến sông Như Nguyệt (ngày nay là sông Cầu).
Không ai biết đường hầm có từ bao giờ. Ngay cả những người già nhất trong thôn Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh - nơi có đền thờ Bà Chúa Kho cũng chỉ có thể biết được khi họ lớn lên đã nhìn thấy đường hầm và vào thời Pháp - Nhật giao tranh, đường hầm được sử dụng làm nơi trú ngụ của bộ máy hành chính và công nhân Nhà máy giấy Đáp Cầu mà thôi.
Cửa hầm từng bị bịt kín bởi một bức tường bằng gạch đỏ nhưng trải qua thời gian, góc phải của bức tường đã bị đổ nát, đủ cho một người chui qua để đi sâu vào hầm.
Đường hầm xuyên lòng núi
Đường hầm nằm sát ngay sau khu đền thờ Bà Chúa Kho và chỉ cách bức tường chính điện thờ bà Chúa khoảng 1,5m. Theo quan sát của chúng tôi, cửa hầm từng bị bịt kín bởi một bức tường được xây bằng gạch đỏ và xi măng, nhưng do lâu ngày bị bỏ hoang nên góc phải của bức tường đã bị đổ nát, đủ cho một người chui qua để đi sâu vào hầm. Xung quanh cửa hầm bụi và mạng nhện bám đầy lối đi.
Để vào sâu bên trong hầm chúng tôi đã phải dùng tới 2 chiếc đèn pin loại bóng tuýp lớn và một bó đuốc. Chui qua miệng hầm, phải bước qua khoảng 20 bậc thang cũng được xây bằng gạch đỏ, xi măng rất kiên cố mới tới con đường bằng phẳng đi thẳng vào hầm. Càng đi sâu lối đi càng được mở rộng dần.
Đường hầm được kiến trúc theo kiểu mái vòm hình chữ u, trần đường hầm được bao bọc bằng đá xanh (loại đá thường dùng để xây dựng), nhiều chỗ có hình thù khá độc đáo. Hai bên thành đường hầm được trát bằng xi măng, mỗi đoạn lại được thiết kế một ô hình chữ nhật nằm lùi vào vách núi. Do bị bỏ hoang quá lâu nên trên nền đường hầm gạch vữa sụp đổ ngổn ngang, bùn đất nhão nhoét, bốc mùi ẩm mốc rất khó chịu. Chiều cao từ trần đến nền hầm chỗ cao nhất ước chừng khoảng 2m, còn chỗ thấp nhất cũng tới 1,8m.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thùy, 62 tuổi - thành viên Ban an ninh bảo vệ khu di tích đền Bà Chúa Kho - người dẫn chúng tôi đi “thám hiểm” thì tính từ cửa vào đến chỗ sâu nhất của đường hầm là khoảng 30m, càng đi sâu đến cuối hầm đường đi càng bằng phẳng, thẳng góc. Cách cửa đường hầm khoảng 200m về phía trái là một căn phòng rộng chừng 3m, cao khoảng 2m, bên trong còn có một cái bàn làm bằng bê tông và rất nhiều khối bê tông đổ nát ngổn ngang. Những người dân địa phương ở đây cho biết, dưới thời Pháp - Nhật giao tranh, căn phòng này là nơi trú ẩn cũng là nơi làm việc của chủ Peto, người Pháp (chủ nhà máy giấy Đáp Cầu) nhằm tránh sự tấn công của quân Nhật.
Một điểm khác biệt của đường hầm này là càng đi vào sâu bên trong lại càng ít lối rẽ, không giống với những đường hầm ở Quảng Trị, Củ Chi có rất nhiều lối rẽ ngang dọc. Đi hết đường hầm độc đáo này là qua bên kia chân núi Kho (nay là đồi Cổ Mễ), với tổng chiều dài ước chừng hơn 500m. Cửa ra bên kia của đường hầm giáp với một con đường nhỏ dẫn ra sông Như Nguyệt, cảnh quan khá thoáng đãng, đẹp đẽ.
Ông Thùy cho biết: “Đường hầm dù tồn tại từ rất lâu đời, lại bị bỏ hoang bao nhiêu năm nhưng dường như vẫn giữ được khá nguyên vẹn những công trình kiến trúc bên trong. Trước đây trong hầm có rất nhiều loại rắn, dơi, chuột... cư ngụ. Thời lên 9, lên 10, mỗi lần ra đây thả trâu tôi cùng mấy đứa bạn lại đốt đuốc đi vào trong để bắt dơi, bắt chuột nhưng không bao giờ dám đi hết cả đường hầm vì càng đi sâu vào trong càng khó thở... Gần đây, có một số doanh nghiệp trên địa bàn thấy đường hầm độc đáo, định xin ban quản lý di tích cho trùng tu và tôn tạo lại để kinh doanh du lịch nhưng các cụ cao niên trong làng Cổ Mễ chưa đồng ý vì các cụ sợ bị mất những dấu tích thời gian của đường hầm...”.
Đường hầm có từ bao giờ?
Cho đến nay, sự ra đời của đường hầm này vẫn là một “ẩn số” và xung quanh nó tồn tại rất nhiều giai thoại khác nhau. 
Chui qua miệng hầm, phải bước qua khoảng 20 bậc thang cũng được xây bằng gạch đỏ, xi măng rất kiên cố thì mới tới được con đường bằng phẳng đi thẳng vào hầm.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thùy, vào thời cụ nội ông còn sống có kể lại rằng, dưới thời nhà Lý khi quân Tống sang xâm lược nước ta, vùng đất quanh sông Như Nguyệt có địa thế khá hiểm trở nên được xây dựng thành một tuyến phòng thủ vững chắc nhằm chống lại quân xâm lược. Và đường hầm này là đường hầm có từ thời bà Chúa Kho, được bà cho đào nhằm giúp quân lính vận chuyển lương thực, nhu yếu... theo đường thủy từ sông Như Nguyệt lên kho quân lương dự trữ trên núi được thuận lợi. Vừa tránh được sự phát hiện của quân Tống vừa tạo một lối đi bằng phẳng, không phải leo lên đồi cao.
Chính vì thế đường hầm mới có lối vào ngay sát sau đền bà Chúa (nguyên thủy đền bà Chúa được xây dựng trên nền kho chứa quân lương ngày xưa) và lối ra là phía sau chân núi, ngay sát sông Như Nguyệt. Sau này qua các triều đại phong kiến, đường hầm này vẫn được tiếp tục sử dụng để đánh lại các quân xâm lược phương Bắc mà dấu tích còn lại của thời đại đó là những phiến đá to, những bức tường bằng cát bi kéo dài, phân nửa chìm dưới lòng đất (xây bằng cát bi và một loại keo dính hỗn hợp) hiện vẫn còn trên đồi.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Mão, 68 tuổi - thành viên Ban quản lí di tích đền Bà Chúa Kho và một số người dân sở tại thì thực chất đây là một đường hầm xuyên núi có từ thời Pháp - Nhật giao tranh. Vào năm 1945, các ông chủ và công nhân nhà máy giấy Đáp Cầu đã sử dụng nơi này làm nơi trú ẩn và làm việc mỗi khi quân Nhật đánh xuống vùng này.
“Trước đây chúng tôi gọi nó là Tulen (tên thời Pháp) nhưng thực chất nó là một đường hầm xuyên qua núi có từ thời Pháp. Trong lòng đường hầm có một chỗ phình ra, hình vuông vốn là phòng làm việc của giám đốc sở máy giấy Đáp Cầu. Còn những khu xung quanh chỗ nào rộng hơn bình thường là chỗ bộ máy hành chính và công nhân của nhà máy giấy chuyển vào đó làm việc cho an toàn. Từ lúc tôi còn đi chăn trâu, chăn bò ra đây đã nhìn thấy hầm này mà năm nay tôi đã 68 tuổi nghĩa là nó cũng phải được xây dựng từ những năm 1942 hay 1944 gì đó...”.
Theo ông Nguyễn Đăng Trúc - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh thì: “Mặc dù xung quanh nguồn gốc sự ra đời của đường hầm này hiện tồn tại rất nhiều giả thiết khác nhau nhưng chúng tôi vẫn thiên về giả thiết cho rằng đường hầm được xây dựng dưới thời Pháp thuộc. Hiện chúng tôi vẫn đang cho tiến hành các thủ tục để tìm hiểu kỹ hơn về con đường hầm này cũng như có các phương án đề xuất với bên quân đội trùng tu và bảo quản...”.
Trong những năm đế quốc Mỹ đánh bom phá hoại miền Bắc, dân làng thôn Cổ Mễ sơ tán ra trú ẩn ở đường hầm này để tránh bom đạn. Trên nóc hầm được sử dụng làm trận địa pháo cao xạ của một số đơn vị pháo của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Một điều mà từ người già cho đến người trung niên ở đây đều nhắc tới và mặc nhiên thừa nhận như một sự bí ẩn khó hiểu: Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ rất ác liệt, bom đạn thả nhiều vô kể nhưng không có bất kỳ một quả bom nào “dám bén mảng” tới chỗ đất này. Những đoàn pháo cao xạ khi chiến đấu ở đây cũng không hề bị một quả bom nào dội trúng, nhưng khi vừa bước qua quả đồi bên kia thì liền bị bom Mỹ dội ngay.  
Hà Tùng Long
Bài đã đăng báo Gia đình & Xã hội cuối tuần, số ra ngày 15/4/2009