Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

Hồ sơ văn hóa: Nghi án Thái sư hóa hổ và hơn 30 đạo sắc minh oan


Báo GĐ&XH đã từng có bài viết về nhân vật lịch sử Lê Văn Thịnh (sinh năm 1038, chưa rõ năm mất) – người được xem là vị tiến sĩ đầu tiên của nền khoa bảng Việt Nam, từng làm đến chức Thái sư dưới thời vua Lý Nhân Tông, là người đã bị mang “án oan” dài nhất lịch sử.
Ông bị quy vào tội “hóa hổ giết vua” nhân một lần hộ giá vua Lý dong thuyền ngoạn cảnh hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay) trong một buổi sớm mai. Trải qua hơn 9 thế kỷ, nỗi oan khiên của ông vẫn chưa được làm sáng rõ. Tuy nhiên, qua những đạo sắc mới phát hiện được trong các đình đền ở Bắc Ninh mới đây cho thấy thực chất ông đã được “minh oan” từ khá lâu trước đó.
 
Tượng thờ Thái sư Lê Văn Thịnh tại đền thờ thôn Bảo Tháp, làng Đông Cứu, Thuận Thành, Bắc Ninh.
 
Nỗi oan xuyên thế kỷ

Chúng tôi tìm về thôn Bảo Tháp, làng Đông Cứu – quê hương của Thái sư Lê Văn Thịnh, làng quê xứ núi yên ả và vắng lặng đến lạ thường. Hỏi một cụ già về đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh thì may mắn gặp đúng ông thủ từ Nguyễn Đức Đam. Không chỉ vui vẻ dẫn chúng tôi đến tận đền thờ mà dọc đường đi ông còn kể cho chúng tôi nghe rất nhiều chuyện liên quan đến vị Thái sư mang án oan nổi tiếng trong lịch sử này.

Theo ông Đam (73 tuổi) thì vào năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) cho mở khoa thi Nho học đầu tiên để chọn người tài làm quan. Trong khoa thi ấy Lê Văn Thịnh vốn là người làng Chi Nhị, tổng Đại Lai, huyện Gia Bình đã đỗ thủ khoa. Hiện trong đền thờ còn lưu giữ nhiều hoành phi, câu đối chứng minh ông là người mở đầu cho nền khoa bảng Việt Nam, trong đó đáng lưu ý nhất là bức hoành phi “Đỉnh giáp khai khoa” (Đệ nhất giáp khoa thi đầu tiên) và đôi câu đối:

“Bắc triều phụng sự vô song sư
Nam quốc khai khoa đệ nhất nhân”

Lần dở lại lịch sử, vào tháng 6 năm 1084, sau khi làm quan được một thời gian Lê Văn Thịnh được cất nhắc lên làm Thị lang bộ Binh. Ông được vua Lý Nhân Tông cử đến trại Vĩnh Bình cùng với người Tống bàn việc cương giới. Tuy binh lực nhà Tống đã bị Lý Thường Kiệt đánh thua tan tác, song vua quan nhà Tống chỉ đồng ý trả lại đất đai do người Tống xâm lược tại nơi biên thùy còn các đất đai do thổ dân nộp để thần phục nhà Tống là hai động Vật Dương và Vật Ác, họ không chịu trả lại. Viện lý những đất ấy là của thổ dân “tự ý” đem sát nhập vào nhà Tống chứ không phải là họ chiếm. Lúc này, Lê Văn Thịnh dại diện cho Đại Việt đã đưa ra những lý lẽ đầy thuyết phục khiến nhà Tống phải trả lại 6 huyện, 3 động cho Đại Việt. Một năm sau đó, ông được vua Lý Nhân Tông phong làm Thái sư - một chức quan quan trọng bậc nhất trong triều Lý thời bấy giờ (theo “Đại Việt sử ký toàn thư”).

Tuy nhiên, 11 năm sau, vị Thái sư này mắc tội “hóa hổ giết vua” và dính kiếp lưu đày.
 
Ông Lê Viết Nga - Giám đốc bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, người đã tìm thấy hơn 30 đạo sắc "minh oan" thái sư Lê Văn Thịnh.

Sự việc này được “Đại Việt sử ký toàn thư” chép lại như sau: “Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay), ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: “Việc nguy rồi!”. Người đánh cá là Mạc Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang (Phú Thọ ngày nay)... Trước đấy Lê Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch”.

Nỗi oan này kéo dài đến gần 10 thế kỷ. Trong gần 10 thế kỷ, không ít nhà sử học tin theo sách cũ, cho rằng việc ông có ý giết hại vua để thoán ngôi mà chỉ bị lưu đày là quá nhẹ. Nhà sử học Ngô Sỹ Liên từng có lời bàn trong “Đại Việt sử ký toàn thư”: “Người làm tôi định cướp ngôi giết vua mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng Phật giáo”. Còn vua Tự Đức dưới thời nhà Nguyễn thì có hẳn một bài thơ “kết tội” Thái sư Lê Văn Thịnh: “Văn học đô vi tiến thủ tư/ Man nô tư súc nhật căng kỳ/ Thần qua nhất kích hôn phần tán/ Yêu hổ nguyên lai thệ Thái sư”.

Hơn 30 đạo sắc “minh oan”

Cũng trong 10 thế kỷ, không ít người cố tìm cách minh oan cho ông nhưng vẫn chưa người nào thực sự đưa ra được những minh chứng thuyết phục. Hầu hết họ đều không tin câu chuyện có tính hoang đường “người hóa hổ”. Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần từng lý giải, vào thời điểm xảy ra biến cố là vào tháng 3, sương mù xuất hiện dày đặc ở Hồ Tây là một việc dễ hiểu. Trong sương mù, vua quan nhìn gà hoá cuốc, Lê Văn Thịnh bởi thế mà mang tội không ngờ tới là một điều có thể xảy ra.

Cũng có nhà sử học cho rằng, thời của Lê Văn Thịnh cùng triều đại với Vương An Thạch ở Trung Quốc. Vương An Thạch là người đã hăng hái cải cách, đụng chạm đến quyền lợi của quan lại trong triều nên bị nhà Tống hiềm ghét. Lê Văn Thịnh có lẽ cũng có những tư tưởng cái cách lớn nên đã bị bọn quan lại nịnh thần ganh ghét, hãm hại.

Tuy nhiên, một bằng chứng mới đây được ông Lê Viết Nga – Giám đốc bảo tàng tỉnh Bắc Ninh tìm thấy đó là hơn 30 đạo sắc phong cho Lê Văn Thịnh qua các triều đại cho thấy ông thực chất đã được “minh oan” từ rất lâu trước đó.

Ông Nga cho biết: “Dù chưa có một sự kiện minh oan nào mang tên “Lê Văn Thịnh” nhưng danh tiếng và công lao của ông đã được bà con vùng Bắc Ninh tôn thờ từ lâu. Theo khảo sát mới nhất của chúng tôi hiện ở Bắc Ninh có tới 9 nơi thờ phụng ông (còn gọi là nội đình và ngoại đình) và tôn ông làm thành hoàng làng. Trong 9 nơi thờ tự này hiện còn lưu giữ được hơn 30 đạo sắc mà các triều đại đã sắc phong cho ông. Trong đó đại đa số sắc phong có niên đại thời Nguyễn, kể cả các đạo phong cho Lê Văn Thịnh với các vị thần khác và đạo phong riêng cho ông đều ghi mỹ tự rất ngắn và tương tự nhau: “Linh phù dực bảo trung hưng bản cảnh thành hoàng chi thần” (Dực bảo Trung hưng Linh phù Bản cảnh Thành hoàng Lê Thái Sư tôn thần)”.
 
Một trong số 30 đạo sắc còn được giữ gìn khá nguyên vẹn.

Riêng các sắc phong ở đình Đình Tổ (xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành) thì có cả các đạo niên đại phong tặng vào thời Lê và thời Nguyễn - đều ghi mỹ tự cho Lê Văn Thịnh rất dài và nội dung khác với các sắc phong của 8 nơi thờ khác.

Các đạo sắc này đều bằng giấy rồng xưa, có ấn chỉ của nhà vua và hiện được giữ gìn gần như nguyên vẹn.

Trong đó, đáng chú ý nhất là 6 đạo sắc của vua Tự Đức. Tự Đức là ông vua duy nhất dưới triều Nguyễn từng làm thơ “lên án” thái sư Lê Văn Thịnh rất quyết liệt. Thế nhưng, sau này chính ông lại là vị vua đã ban tới 6 sắc phong cho Thái sư Lê Văn Thịnh để ghi nhớ công lao của ông. Hầu hết các sắc phong này đều có câu “Các ngài có công giúp nước, giúp dân tỏ rõ linh ứng, trải các tiết lễ đã được ban sắc phong cho phép phụng thờ” nghĩa là ông cũng đồng lòng với dân ghi nhận công lao đóng góp của Thái sư Lê Văn Thịnh và tôn Ngài làm thành hoàng của các làng.

Ngoài ra, với hai đạo sắc mang niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767) và Cảnh Hưng thứ 44 (1783) tìm thấy ở đình làng Đình Tổ cho thấy ngay từ thời Lê, Thái sư Lê Văn Thịnh không chỉ được dân chúng tôn thờ mà triều đình cũng ghi nhận công lao và tôn thờ ông như một vị thần. Điều đó chứng tỏ từ thời Lê “vụ án hồ Dâm Đàm” đã không còn mấy người tin.
 
Hà Tùng Long

BẮC GIANG: Gặp truyền nhân duy nhất võ sáo của Đề Thám


Để hạ gục quân thù cũng như giúp anh em trong nghĩa quân bớt buồn nơi núi rừng heo hút, cụ Đề Thám – người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế, đã sáng tạo ra một thế võ hết sức độc đáo gọi là võ sáo.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Đề Thám tan rã, võ sáo cũng theo đó chìm vào quên lãng hoặc chỉ được lưu truyền qua những câu chuyện dân gian. Chỉ đến khi ông Trịnh Như Quân (TP Bắc Giang) có cơ may sưu tầm được và đưa võ sáo từ trong huyền thoại ra giữa cuộc đời thì môn võ độc đáo này mới được nhiều người biết đến.
 
Thiên “vận” khó tránh
 
Đón tôi ở bến xe Chũ – TP Bắc Giang là một người đàn ông có mái tóc dài buông thõng, nước da trắng hồng, dáng đi hùng dũng  đúng chất con nhà võ. Dù được nghe nói trước là ông Quân đã bước vào tuổi lục tuần nhưng tôi vẫn không thể tin vào mắt mình vì người đàn ông này trẻ quá nhiều so với tuổi. Ông đưa tôi về căn nhà thênh thang bốn tầng một mình ông “bá chủ”.
 
Hỏi vợ con ông đâu, ông cười bí ẩn rồi nhẹ nhàng lấy cây sáo sắt dài 1,4m, nặng 3,5kg ra thổi bài “Buồn tàn thu”. Tiếng sáo réo rắt, u buồn, lúc lên cao, lúc xuống thấp, tiếng càng già lại càng cay như xoáy vào buổi trưa  tĩnh mịch khiến tôi nghe xong mà bủn rủn tay chân.
 
Cây sáo dài 1,4m thường được ông Quân dùng để luyện tập hàng ngày.
 
Sau bài sáo “phủ đầu”, nhấp xong mấy ngụm trà đắng Bắc Giang, ông Quân mới chịu khai thật là cả vợ và con trai, con gái đều đang ở Hà Nội. Họ không bỏ ông vì ông quá kỳ dị như một số lời đồn đại, mà đang làm ăn ở đó. Vợ ông về Hà Nội giúp con gái trông coi một quán cà phê ở gần Hồ Tây, hàng tháng vẫn đều đặn lên thăm ông.
 
Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu lan man khi ông mở đĩa nhạc “Vạn cổ sầu” gồm 12 khúc ca do ông độc tấu bằng sáo sắt vừa thu xong ở phòng thu của Đại học Văn hóa Hà Nội. Ông Quân chia sẻ, mặc dù bố ông là võ sư có tiếng của đất Bắc Giang, nhưng lúc còn trẻ, ông có dáng dấp nghệ sỹ hơn vì rất lãng mạn, yêu thơ văn và âm nhạc.
 
Nhưng không hiểu vì sao, võ cứ “vận” vào ông như một nhân duyên tiền định, có muốn chạy trốn cũng không được, không muốn si mê cũng không xong. Cũng chính nhờ học võ mà ông mới có cơ duyên đến được với võ sáo và trở thành truyền nhân duy nhất còn lại của môn võ độc đáo vào loạt bậc nhất Việt Nam này.
 
Vào những năm 1990 – 1991, ông làm ở Sở Thể dục - Thể thao Bắc Giang và được giao đi sưu tầm các thế võ cổ của địa phương. Trong một lần đặt chân đến núi rừng Yên Thế, nơi trong suốt 30 năm, đội quân nghĩa khí của cụ Đề Thám luyện binh chống lại bọn thực dân cướp nước, ông may mắn nghe được tin có cụ Triệu Quốc Uý - một lão tướng của cuộc khởi nghĩa Yên Thế còn lưu giữ được nhiều thế võ độc đáo của nghĩa quân Đề Thám khi xưa.
 
Ông liền tìm đến Rừng Phe (thuộc bản Phe, xã Tân Hiệp, Yên Thế) để gặp truyền nhân cuối cùng của bài võ sáo “Dạ nguyệt Phồn Xương”, tương truyền là ngón võ sở trường của cụ Đề Thám. Lúc này, cụ Triệu Quốc Úy đã cận kề tuổi 90 nhưng may thay còn khỏe mạnh, tinh anh và không ngần ngại truyền lại những gì mình biết.
 
Cây xà beng biết “khóc”
 
Sau một hồi say sưa vừa kể chuyện, vừa thổi sáo, vừa đi quyền… ông Quân dẫn tôi đến bên bốn cây “Thiết địch thần phong” mà theo ông, đó là gia tài quý giá nhất đời ông. Bốn cây sáo sắt được đặt ngay ngắn, trang trọng bên một góc phòng của phòng khách.
 
Mỗi cây sáo được dắt trên một khối bê tông hình tròn cực lớn. Nhìn từ xa, không ai nghĩ những cây sáo trông rất “bình thường” này lại làm nên những điều kỳ diệu, có thể đưa hồn người  lên chốn bồng lai  nhưng cũng có thể khiến người ta bị đả thương, mất mạng trong nháy mắt.
 
Ông Quân vừa thổi sáo vừa kết hợp biểu diễn các thế võ.
 
Ông Quân gọi những cây sáo này là những “cây xà beng biết khóc”. Ông bảo: “Nếu chỉ gọi là xà beng biết hát thì bình thường quá, vì nó không chỉ biết phát ra âm thanh mà nó còn lay động lòng người. Mỗi một âm thanh của nó là một tiếng đời thổn thức, lúc réo rắt, nhẹ nhàng, nhưng lúc bi ai, thảm thiết như cấu xé vào lòng người khiến cho đau mà không thốt nên lời, chỉ biết rơi lệ mà thôi”.
 
Ông cho phép tôi cầm từng cây sáo lên để cảm nhận được sức nặng của nó. Quả đúng như lời ông nói, phải gọi đây là những cây “xà beng” mới đúng. Tôi cũng không hiểu sao, những cây sáo sắt mà tôi chỉ mới cầm được một lúc đã thấy chân tay run rẩy, thì ông Quân lại có thể cầm một cách nhẹ nhàng trong hàng mấy tiếng đồng hồ, thổi hết bài sáo này đến bài sáo khác.
 
Đặc biệt, cây sáo dài 2,1m với độ dày tới 6 ly khi thổi lên, âm sắc của nó không nhạc cụ nào có thể sánh tày. Theo yêu cầu, ông Quân thổi cho tôi nghe bài “Thiên Thai” và “Trương Chi” của cố nhạc sỹ Văn Cao bằng cây đại sáo này.
 
4 cây sáo sắt của ông Quân được đặt trang trọng trong phòng khách.
 
Trong buổi trưa thanh vắng, tiếng sáo vút lên cao giữa tầm không trong vắt. Cái điệu buồn thê lương của tiếng sáo như thấm vào da thịt, len vào từng ngóc ngách của  người nghe khiến họ như mơ màng trong muôn cơn ảo thực.
 
Ông Quân cho biết, để chơi được cây sáo “vĩ đại” này, ông phải bỏ ra gần 8 năm trời kiên trì tập luyện. Mỗi ngày ông dành ra ít nhất là 6 tiếng đồng hồ chỉ tập thổi sáo mà thôi. Luyện được sáo rồi nhưng không phải gặp ai ông cũng biểu diễn cho họ nghe mà chỉ những người ông thấy thực sự hiểu biết về nó ông mới thổi. Ông chỉ buồn một nỗi, cho đến bây giờ vẫn chưa tìm được  một đệ tử nào đủ tâm và tài để ông truyền lại ngón võ sáo kỳ diệu này.
 
Kỳ công tạo tác Thiết địch thần phong
 
Việc không chọn tre, trúc... những nguyên liệu truyền thống dân gian thường dùng làm sáo mà lại chọn sắt để làm được ông Quân lý giải: “Cây sáo đúng nghĩa là “Thiết địch thần phong” trong “Dạ nguyệt Phồn Xương” của cụ Đề Thám xưa vốn là sáo kim loại, dài 1m, nặng gần 1kg.
 
Đây được xem là vũ khí lợi hại để hạ gục mọi đối thủ. Nhưng tôi muốn nâng cao những cây sáo này lên thành những cây sáo lớn hơn tương đương với kiếm đao, gậy, thù… để làm được nhiều điều kỳ diệu hơn thế”.
 
Để làm được 4 cây sáo sắt “vĩ đại”, ông Quân phải đi khắp nơi lùng mua được thứ sắt đặc biệt, sau đó nhờ một lò rèn nổi tiếng ở đất Bắc Ninh rèn hộ theo những kích thước khác nhau.
 
Riêng những chữ Hán khắc trên thân sáo ông Quân phải nhờ một nghệ nhân cao tay, từng đục khắc bia ở Văn Miếu (Hà Nội), đục khắc hàng tháng trời mới xong.
 
Cây thứ nhất dài 1m, dày 2 ly, nặng 1kg – đây là cây sáo có kích thước giống cây sáo của nghĩa quân Đề Thám xưa. Cây thứ hai dài 1,4m, nặng 3,5kg. Cây thứ ba dài 1,6m, nặng 4kg và cây cuối cùng dài tới 2,1m, nặng 6kg, dày 6 ly.
Võ sáo - môn võ độc đáo của làng võ Việt?
 
Một năm trời, ông Quân bỏ vợ con, bỏ cả ngôi nhà bốn tầng đang xây dở để lao vào chốn “long đàm, hổ huyệt” theo thầy học võ. Cả hai thầy trò hết sáng lại chiều, không màng mưa nắng, “tu luyện” đến mức nhuần nhuyễn “Thiết địch thần phong” (Cây sáo có sự cuốn hút và sức mạnh như cơn giáo thần giữa đại ngàn tiêu dao) hay còn gọi là “Ngọc tiêu diệu khúc” (cây sáo có sức mạnh như cơn gió thần hay khúc sáo ngọc kỳ diệu).
 
“Thế hiểm” của các bài võ từ “Thiết địch thần phong” này là sự kết hợp giữa âm thanh bay bổng, sâu lắng, réo rắt của cây sáo kim loại với sự hỗ trợ của chưởng, quyền, cước... tạo nên các thế võ huyền diệu có thể hạ gục đối thủ ngoạn mục.
 
“6 thế tấn, 13 đặc dị kiếm pháp và 51 chiêu thức cụ thể ẩn chứa bao nhiêu là sự tinh túy của trời, đất và người. Càng học càng thấy võ sáo nhiệm màu, bí hiểm đến khó tả. Một năm ròng rã theo thầy học mà tôi vẫn chưa thể lĩnh hội được hết sự nhiệm màu của các bài võ” – ông Quân cho biết.
Hà Tùng Long
Gia đình và Xã hội Cuối tuần Xuân Canh Dần

HÒA BÌNH: Bộ bàn ghế gỗ gù hương 4.000 năm tuổi


Năm 2000, một lần ngao du xứ Mường (Kim Bôi, Hòa Bình), ông Nguyễn Công Đức bỗng phát hiện dưới khoảng đất đồi bằng phẳng có một gốc cây gù hương đại thụ. Ông bỏ ra ngay số tiền tương đương với 12 cây vàng thời đó, mua lại gốc cây và vận chuyển về trang trại của mình ở Lương Sơn làm bàn ghế.
Bỏ 12 cây vàng chỉ để thỏa tò mò
 
Ông Bùi Văn Hiếu (53 tuổi) dẫn chúng tôi đến thăm trang trại của ông Nguyễn Công Đức để mục sở thị bộ bàn ghế làm từ gốc cây gỗ gù hương có một không hai này. Ông Hiếu kể, 9 năm qua, ông Đức “gấu” (người dân xứ này gọi ông Nguyễn Công Đức như vậy vì ông nổi tiếng về tài nuôi gấu đẻ) để bộ bàn ghế độc đáo ở nguyên một chỗ, ngay trước phòng khách của căn nhà hai tầng màu trắng, trong trang trại rộng gần 7ha.
 
Có được bộ bàn ghế làm từ gốc cây gù hương 4.000 năm tuổi này, theo lời ông Đức, là một cơ may hiếm có. “Trong một lần cùng mấy người bạn đi chơi ở vùng Kim Bôi, khi đi qua một ngọn đồi, tôi thấy xung quanh rất nhiều cây dại mọc nhưng giữa ngọn đồi thì tịnh không có một bóng cây. Thấy lạ, tôi lại gần quan sát thì bị “mắc kẹt” ở đó không tài nào ra được. Sau đó, tôi tìm đến một người dân tộc ở gần đó hỏi thì được biết, dưới khoảng đất trống đó có một gốc cây gù hương”, ông Đức nhớ lại.
 
Ông Đức bên bộ bàn ghế độc nhất vô nhị của mình.
 
Đang miên man suy nghĩ, không biết dưới đó là gốc cây gì mà có sự lạ kỳ đến thế thì người đàn ông Mường hỏi tôi có mua gốc cây không. Quá tò mò, tôi hỏi giá bao nhiêu. Ông ấy bảo: “Mày trả cho tao một triệu hai là được. Không mặc cả, tôi trả nguyên giá ông đưa ra”. Theo lời người chủ đất thì những năm 50, thực dân Pháp cai quản vùng này đã chặt cây gù hương này đưa xuống tàu chở về nước, chỉ còn lại gốc cây.
 
Tiền trao xong, ông Đức đề nghị người đàn ông kia đào lớp đất phía trên để xem. Càng đào, gốc cây hiện ra như một tảng đá rộng. Lấy thước đo,  “tảng đá” có đường kính tới 7,4m và mùi thơm rất đặc biệt.
 
Trả 130 ngàn USD chưa bán
 
Để khai thác được gốc cây quý hiếm này, ông Đức phải thuê tới 15 người đào bới, máy móc và vận chuyển trong gần một tháng trời. Trừ ăn uống, ông trả công thợ mỗi người 15.000 đồng/ngày. Sau đó, đích thân ông về Hà Nội, mua gần một tạ dây thừng mang lên để giằng néo gốc cây.
 
Khi gốc cây đã lộ thiên gần hết, ông thuê 20 con trâu mộng khỏe nhất của các gia đình dân tộc Mường quanh vùng để kéo bật gốc cây này ra khỏi mặt đất. Cầu kỳ hơn, giữ cho gốc cây không bị sứt mẻ, ông thuê người chặt hàng trăm cây chuối lót đường khi lăn từ đồi cao xuống đường cái và thuê thêm 10 thanh niên hỗ trợ.
 
Quanh thân gỗ, các rễ cây uốn lượn, quyện chặt hoặc đan xen vào nhau như hàng nghìn con rắn nhỏ.
 
Gốc cây lúc mới bật lên lộ rõ ba phần thân chắp nối vào nhau nhưng ở đoạn dốc cao nhất, không may bị đổ ập quá mạnh nên tách rời thành ba khối riêng lẻ. “Cũng may nó tách rời ra thành ba phần chứ nếu dính liền với nhau như nguyên bản thì tôi không biết đặt vào đâu cho được...” – ông Đức vui vẻ nói.
 
Trong ba thân gỗ tách ra từ gốc cây gù hương, khối nhỏ nhất có đường kính 1,4m ông dùng làm nơi thờ cúng sơn thần thổ địa. Khối có đường kính 2,7m dùng làm bàn để tiếp khách. Khối còn lại hơn 3m, ông dùng làm phản. Riêng phần rễ của gốc cây làm được 18 chiếc ghế và một đôn đặt tượng cao hơn 1m. Tất cả các hiện vật này được ông giữ nguyên bản, không chạm khắc, không sơn mài, đánh bóng.
 
Quan sát kỹ, bề mặt của ba thân gỗ gù hương đều có vân vi rất đẹp. Không cụ thể một hình dạng quen thuộc nào, nhưng nhìn tổng thể, nó hệt những đám mây nhỏ trên bầu trời mùa thu. Quanh từng thân gỗ, các rễ cây uốn lượn, quyện chặt hoặc đan xen vào nhau chẳng khác gì hàng nghìn con rắn nhỏ.
 
Khối nhỏ nhất có đường kính 1,4m trước dùng làm nơi thờ cúng sơn thần thổ địa nay dùng để để các vật dụng thiết yếu của ông Đức.
Chiếc phản làm từ phần lớn nhất của gốc gỗ.
 
Theo ông Đức, lúc mới mang về, mùi thơm từ gốc cây gù hương tỏa ra sực nức trang trại. Lâu ngày, lớp ngoài của gốc cây đã khô nên không còn thơm mấy. Thế nhưng, nếu dùng dao cạo lớp ngoài đi thì từ gốc cây sẽ nhỏ ra một lớp nhựa như nhựa thông, có mùi thơm ngào ngạt.
 
Cũng theo ông Đức, từ lúc nằm ngủ trên tấm phản làm từ gốc cây gù hương, ông thấy sức khỏe của mình ngày càng tốt hơn. Mỗi lần nằm trên đó, ông ngủ rất sâu, tỉnh dậy thấy trong người khoan khoái, nhẹ nhàng, tinh thần thanh thản lạ thường.
 
Có lần, một nhà khoa học của ĐH Nông nghiệp đến trang trại của ông Đức nghiên cứu gấu đẻ, được ông cho nằm thử trên chiếc phản này một thời gian đâm “ghiền”. Đích thân ông tiến sỹ đục một miếng gỗ nhỏ mang về nghiên cứu và sau đó gọi điện báo rằng, cây gù hương có tuổi đời từ 3.500 -  4.000 năm.
 
Gần chục năm qua, hàng chục tay chơi gỗ lũa khét tiếng trong Nam, ngoài Bắc và cả ở nước ngoài tìm đến trang trại của ông Đức để được chiêm ngưỡng bộ bàn ghế có một không hai này. Nhiều người xem xong có ý muốn mua lại nhưng ông không bán.
 
Đặc biệt nhất là có một người Mỹ, sau khi ngắm nghía kỹ bộ bàn ghế và chiếc phản đã một mực mua lại với giá 130.000USD nhưng ông Đức vẫn không bán. Ông Đức tâm sự: “Tiền bạc không phải thứ tôi thiếu nên dù có trả hơn 10 lần người Mỹ kia thì tôi vẫn không bán. Có được bộ bàn ghế này là nhờ nhân duyên. Tôi không bao giờ dứt duyên mình để đổi lấy vật chất phù du cả”.
 Hà Tùng Long
Gia đình và Xã hội Cuối tuần Xuân Canh Dần