Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 3 tháng 1, 2011

"RỒNG THẦN" XUẤT HIỆN TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI

Sau trận mưa rào đầy bất ngờ, đổ xuống vào lúc 17h20 ngày 20/8/2009 trên bầu trời Hà Nội bỗng dưng xuất hiện một hiện tượng hết sức lạ lẫm, thu hút rất nhiều sự chú ý của  người dân Hà Thành đó là hiện tượng vẩy rồng. Hiện tượng này kéo dài trong vòng gần 40 phút, khoảng từ 17h40 đến 18h20 thì kết thúc.
Theo quan sát của phóng viên, sau khi tạnh mưa, bầu trời bầu trời bỗng  xuất hiện những đám mây có màu vàng nhạt, hình vẩy rồng hay vẩy cá thần, xếp chồng lên nhau giống như những hình ảnh thường thấy trên các bức họa hình rồng thần hoặc cá thần.
Hiện tượng kỳ lạ này dàn trải thành một khu vực khá rộng trên bầu trời khiến cho rất nhiều người dân Hà Nội tò mò và thích thú. Nhìn thấy hiện tượng này rõ nhất chính là các khu vực Cầu Giấy, Mỹ Đình, Ba Đình, Đống Đa…Chính vì hiện tượng kỳ lạ này xuất hiện đúng giờ tan sở nên khiến cho rất nhiều quãng đường như: Trần Duy Hưng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Hoàng Quốc Việt, đường Láng, Hồ Tùng Mậu…bị tắc đường do nhiều người dân hiếu kỳ dừng xe lại ngay giữa lòng đường để tranh thủ chiêm ngưỡng hiện tượng hiếm có này.
Cụ Nguyễn Thị Lạc (92 tuổi) ở Phú Mỹ, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội đang trên đường từ nhà con gái ở Xuân Thủy, Cầu Giấy về nhà ở Phạm Hùng (Từ Liêm, Hà Nội) khi đi đến đường Hồ Tùng Mậu (Cầu Giấy), vô tình nhìn thấy hiện tượng này đã đòi con rể dừng xe lại để chiêm ngưỡng cho bằng được.
Theo cụ Lạc thì đây là một hiện tượng rất hiếm gặp và nó báo hiệu một điềm tốt cho người dân. “Tôi đã 92 tuổi nhưng đây là lần thứ hai nhìn thấy hiện tượng này. Theo ông nội tôi ngày xưa kể lại thì đó chính là hình thù không rõ nét của rồng thần đang hút nước bên sông Ngân Hà trên cõi trời. Đây là một điềm báo, báo hiệu một tháng đầy những điềm tốt và thời tiết sẽ rất thuận lợi cho người dân Hà Nội….” – cụ Lạc tâm sự.
Hiện tượng này xuất hiện đúng vào ngày 1/7 năm Kỷ Sửu lại càng khiến cho rất nhiều người dân tin rằng sắp sửa có một điều kỳ diệu xảy ra. Bởi theo quan niệm của người Á Đông thì rồng thần chỉ xuất hiện vào những dịp rất đặc biệt và việc chiêm ngưỡng được một phần thân thể của rồng thần là một điều cực kỳ hiếm gặp.
Sau đây là chùm ảnh rồng thần xuất hiện trên bầu trời Hà Nội mà phóng viên Bee  đã tình cờ chụp được khi đang đi trên đường.
Mô tả ảnh.
Sau cơn mưa, bắt đầu xuất hiện những đám mây lạ trông như một con rồng đang từ xa đến
 
Mô tả ảnh.
Những  chiếc "vảy " lớn dần....
 
Mô tả ảnh.
Và con rồng đang "trườn" qua bầu trời Hà Nội 

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Mô tả ảnh.
Mô tả ảnh. Hà Tùng Long                                                                     

Điều chưa biết về “hâm mộ ca” của bóng đá Việt

Không ít người khi nghe những ca từ bừng bừng khí thế của bài hát “Việt Nam chiến thắng” mới “toe” được phát đi phát lại không dưới bốn lần khi chiếc cúp vô địch AFF Cup được giơ lên bởi các cầu thủ Việt Nam đã thắc mắc: “Nhạc sỹ nào lại có thể tiên đoán trước là Việt Nam sẽ chiến thắng mà sáng tác được bài hát kịp thời đến thế?”.
Ít ai biết,đó là bài hát được PGS.TS cổ nhân học Nguyễn Lân Cường sáng tác trước đó 10 năm - quãng thời gian mà người hâm mộ mỏi mòn chờ đợi chiến thắng của ĐTVN sau Tiger Cup 1998...
“Hâm mộ ca” được sáng tác trên đường
Những giọt nước mắt “thản nhiên” ứa ra trong xúc động tột cùng và cứ thế lăn dài trên gò má của PGS. TS Nguyễn Lân Cường, khi ông kể cho chúng tôi nghe về hoàn cảnh ra đời của bài hát. Lạ thay, ông càng hào sảng, hăng say kể về những giây phút sung sướng đến ngập tràn khi bài hát của ông sau 10 năm chờ đợi cuối cùng cũng được phát vang vọng khắp Việt Nam bao nhiêu thì nước mắt ông lại càng tuôn trào bấy nhiêu. Ông bảo rằng: “Cậu đừng viết lên báo là nhìn thấy tôi khóc đấy nhé”.
 
PGS.TS Nguyễn Lân Cường bên album tập hợp những bài hát do ông sáng tác.
Ông kể, ông sáng tác bài hát “Việt Nam chiến thắng” vào ngày 3/9/1998 trong dịp Tiger Cup, khi ông đang là Ủy viên BCH Liên đoàn bóng đá Việt Nam. Hôm đội tuyển Việt Nam gặp Thái Lan trên sân vận động Hàng Đẫy, ông được Liên đoàn bóng đá phân công đứng chụp ảnh dưới sân bóng. Thế rồi, cũng như ngày 28/12/2008 vừa qua, niềm vui vỡ òa khi Việt Nam giành chiến thắng trước đội tuyển Thái Lan với tỷ số 3 - 0.
Vui sướng quá, ông hòa vào biển người cổ vũ rồi cứ thế “trôi” đi. “Trôi” đến đoạn đền Ngọc Sơn ở bờ hồ Hoàn Kiếm thì ông bị bật lên vỉa  hè vì dòng người đổ về càng lúc càng đông. Ông dựng xe ngay dưới lòng đường, lấy yên xe làm bàn viết và sáng tác ngay tại chỗ lời một bài hát. “Tôi đã không kìm được hơn nữa bởi cái âm vang hào hùng “Việt Nam Hồ Chí Minh! Việt Nam chiến thắng!”. Và cứ thế, lời bài hát tuôn ra từ trong những cảm xúc khó hiểu nhất của ông: “Hà Nội đêm nay không ngủ, Việt Nam chiến thắng, Việt Nam Hồ Chí Minh...”.
Viết xong lời một, nhìn xuống đường thì dòng người vẫn đang “cuộn chảy” và  ông lại tiếp tục hòa vào dòng người để đi mà không cần biết rằng mình sẽ đến đâu. Đến đoạn đài phun nước (ở ngã tư Hàng Ngang, Cầu Gỗ, Lê Thái Tổ, Đinh Tiên Hoàng) thì đường lại bị tắc, hàng hàng lớp lớp người từ Hàng Ngang, Hàng Đào... đổ về khiến ông bị kẹt ở một chỗ. Ông lại tiếp tục dựng xe giữa đường ngồi lên đài phun nước để viết tiếp lời hai của bài hát. Ngay hôm sau, ông đưa đến Báo Hà Nội mới để đăng nhưng không may cho ông, đội tuyển Singapore đã giành thắng lợi trước đội tuyển Việt Nam sau đó và bài hát được ông cất giữ vào album để chờ một ngày kỳ diệu xảy ra.
 
Bài hát “Việt Nam chiến thắng” với bút tích của tác giả tặng PV Báo GĐ&XH Cuối tuần.
Và cả triệu người hâm mộ cùng hát
Sau khi xem xong trận chung kết lượt đi, với kết quả 2 - 1 nghiêng về đội tuyển Việt Nam, ông hết sức vui mừng: “Lúc đó tôi suy nghĩ, dù sao thì chúng ta cũng đã vào được chung kết và các cầu thủ Việt Nam đã chơi hết sức mình. Nếu chúng ta không thắng được ở lượt về thì ngần đó cố gắng của các cầu thủ Việt Nam cũng cần được đền đáp xứng đáng...”. Nói là làm, ông đã dành dụm toàn bộ số tiền có được để đi thu âm bài hát ngay vào chiều 25/12/2008 tại Học viện âm nhạc Việt Nam, xem đó như một món quà tinh thần tặng cho các cầu thủ Việt Nam nhân ngày trở về.
Sau khi thu âm xong bài hát, ông lên gặp trưởng ban quản lý sân vận động Mỹ Đình và nói với họ một câu chắc nịch: “Tôi tin chắc ngày mai Việt Nam sẽ thắng nhưng vì bóng đá thường khó lường mà Thái Lan lại là một đội mạnh, nên chưa dám nói trước điều gì. Nhưng tôi vẫn vững tin rằng đội tuyển Việt Nam sẽ làm nên những điều kỳ diệu. Nếu ngày mai Việt Nam chiến thắng, tôi đề nghị cho phát bài hát này  góp vui”. 
Chưa đầy năm tiếng trước trận chung kết lượt về giữa Việt Nam và Thái Lan chiều 28/12, ông lại phóng xe lên 17B Hàng Bài – tiệm bán loa đài Cảnh Thịnh và siêu thị điện máy Pico Plaza ở đường Hai Bà Trưng vì đây là những đoạn đường trung tâm, khi có các sự kiện lớn lượng người đổ về đây rất đông. Ông tặng cho các chủ tiệm ở đây một đĩa CD và dặn nếu đêm nay Việt Nam chiến thắng anh cho phát bài hát này để cổ vũ cho đội tuyển nước nhà.
Sau khi đã làm xong phận sự của một fan hâm mộ bóng đá, ông quay về Lý Thường Kiệt, xem bóng đá và đợi. Theo dõi từ đầu đến những phút cuối của trận đấu, thấy đội tuyển Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu đuối sức, ông đã vô cùng lo lắng. Đang mông lung với hàng mớ ý tưởng thì cả quán cà phê ồ lên: “Vào rồi, Việt Nam vào rồi”. Lúc đó, ông giật mình nhìn vào màn hình thì đúng lúc tivi đang chiếu lại pha ghi bàn ở phút thứ 93 của Công Vinh. Khi được tận mắt chứng kiến pha ghi bàn của Công Vinh, ông không kịp suy nghĩ gì nữa mà lao ra xe và phi thẳng lên Hàng Bài. Đến nơi, bài hát của ông đã được phát vang vọng khắp phố.
 
Người hâm mộ đổ dồn về hồ Hoàn Kiếm mừng chiến công vô địch AFF Cup của bóng đá Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Nhật
Dòng người cổ vũ đổ về bờ hồ mỗi lúc một đông nhưng khi đi qua Hàng Bài nghe bài hát của ông thì họ đứng lại, cùng hát theo và hò reo. Ông cùng hát theo họ và trong niềm vui chiến thắng bất tận, trước những ánh mắt ngạc nhiên của dòng người, ông cầm micro đứng lên thùng loa và nói to: “Tôi là tác giả của bài hát các bạn đang nghe, tôi xin tặng bài hát này cho HLV Calisto, cho đội tuyển Việt Nam đã chiến đấu rất ngoan cường nhưng đặc biệt là tôi tặng cho các bạn, những cổ động viên rất nhiệt tình, rất hăng say, vì các bạn là yếu tố thứ ba tạo nên chiến thắng này”. Sau khi ông nói xong, mọi người vỗ tay, nhấc bổng ông lên như các cầu thủ Việt Nam nhấc HLV Calisto ngoài sân cỏ những phút trước đó rồi hát thật to bài hát của ông.
Sau đó, khi ông hòa vào dòng người lên bờ hồ Hoàn Kiếm như 10 năm trước để quay phim thì một người bạn của ông gọi điện báo, bài hát của ông đang được Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi sau khi trọng tài thổi còi chấm dứt trận đấu. Niềm vui càng nhân lên khi một người bạn khác lúc đó đang có mặt ở sân vận động Mỹ Đình cũng gọi điện về báo là cả sân đang hào hứng vỗ tay theo bài hát của ông.
Ông kể, có người đã hỏi ông: “Liên đoàn bóng đá Việt Nam có thưởng cho ông tiền không khi bài hát của ông gây tiếng vang như thế?”. Ông cười trả lời: “Tôi chưa được ai thưởng cả nhưng phần thưởng lớn nhất tôi có được không tính được bằng tiền. Bài hát là sự ấp ủ của 10 năm chờ đợi. Tôi ấp ủ không phải vì tôi muốn được nổi tiếng bởi với 800 bộ xương người và 4 nhà sư tôi đã nổi tiếng lắm rồi... Mong muốn duy nhất của tôi là làm sao để trả được nghĩa cho các cổ động viên và trả nghĩa cho các cầu thủ (khi nói về cổ động viên hay cầu thủ ông đều gọi bằng em rất thân mật). Phần thưởng lớn nhất đối với tôi đó là bài hát đã được vang lên cùng non sông”.
 
Xưa nay, người ta biết tới PGS.TS Nguyễn Lân Cường vì ông là một PGS đầu ngành về cổ nhân học với công trình nghiên cứu 800 bộ xương người cổ, tu bổ 4 nhục thân của các vị thiền sư ở Chùa Đậu, Phật Tích và Tiêu Sơn chứ chưa hề thấy ông hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc. Vậy mà khi nhìn vào bề dày về hoạt động âm nhạc của ông, nhiều người phải ngạc nhiên.
Năm 1958 ông đã bắt đầu sáng tác và chỉ huy hợp xướng trong phong trào ca hát của học sinh sinh viên Hà Nội. Lúc đầu là những hợp xướng như: “Tiếng ca trên bè gỗ”, “Bài ca địa chất”... Sau đó, ông được kết nạp vào Hội âm nhạc Hà Nội rồi Hội nhạc sỹ Việt Nam và nay là trưởng ban kiểm tra kiêm ủy viên ban chấp hành Hội âm nhạc Hà Nội, đồng thời là hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam.
 (Bài đã được đăng trên báo Gia đình & Xã hội - Cuối tuần, Số ra ngày 08/01/2009)
Hà Tùng Long

Gió làng Kình - Xem hết phim sẽ hiểu

Vừa qua, trên phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện một số ý kiến phê bình bộ phim “Gió làng Kình”. Cụ thể, nhiều ý kiến cho rằng có nhiều chi tiết phi thực tế, cách xây dựng nhân vật không có tính điển hình, thậm chí là thổi phồng sự thật lên quá mức... Chúng tôi đã trao đổi với đạo diễn Nguyễn Hữu Phần về những vấn đề này.
 
Nhân vật trưởng thôn được xây dựng trên nguyên mẫu có thật
 
Thưa ông, vừa qua có khá nhiều ý kiến“Gió làng Kình” đã thổi phồng quá mức nhân vật trưởng thôn Khuyếnh bằng nhiều tình tiết xa rời thực tế?
 
- Nếu trên thực tế, ông trưởng thôn nào cũng tốt đẹp thì đã không có bộ phim này và cũng sẽ không bao giờ có sự lộn xộn ở nông thôn cả. Khi xây dựng nhân vật này, anh Phạm Ngọc Tiến (Biên kịch) đã dựa vào một câu chuyện có thật đã đăng trên báo ở một vùng quê của Đồng bằng sông Hồng. Từ câu chuyện này, anh Tiến đã tìm hiểu, nghiên cứu các nhân vật trưởng thôn ở một số vùng nông thôn khác. Sau khi đã tìm hiểu, anh Tiến nhận thấy rằng, có không ít trưởng thôn như thế đang tồn tại ở nhiều vùng nông thôn. Những trưởng thôn này tuy chỉ có một chút quyền lực nhưng có thể làm khuynh đảo toàn bộ thôn xóm. Khuynh đảo ở đây có cả lưu manh và cả những trò rất bẩn thỉu.
 
Cảnh trong phim "Gió làng Kình".
 Nhưng có ý kiến lại nói rằng trình độ dân trí của người dân bây giờ rất cao. Với những hành động ngang ngược, cường hào như của trưởng thôn Khuyếnh thì đã bị dân tố cáo từ lâu rồi... Ông nghĩ sao về điều này?
- Nếu khán giả theo dõi đến cuối phim sẽ thấy, đến khóa thứ hai “cuộc chiến” của ông trưởng thôn sẽ khó khăn hơn rất nhiều, e chừng khó lòng tại vị thêm khóa nữa. Ý của nhà làm phim là phản ánh một hiện tượng có tồn tại ở một số vùng nông thôn và gửi thông điệp: cái xấu chỉ có thể tồn tại được một thời gian rồi sẽ bị lật tẩy. Phim cũng muốn đưa ra thông điệp cảnh báo về việc sử dụng quyền dân chủ của người dân như thế nào. Khi chúng ta bầu cử thì chúng ta nên chọn ai đủ tài đức để phục vụ cho sự nghiệp chung, chứ không phải vì quyền lợi riêng.
 
Tôi thừa nhận là trình độ của người dân ở các vùng nông thôn ngày nay đã và đang được nâng cao, khả năng nắm bắt thông tin tốt nhưng rất tiếc là nó chủ yếu thuộc về lớp trẻ. Còn những người lớn tuổi đang có quyền quyết định những vấn đề ở nông thôn, những vấn đề về kinh tế của một gia đình, dòng tộc thì nhiều người chưa nắm bắt được thông tin.
 
Một cảnh trong phim "Gió làng Kình"
Hãy xem hết phim đi đã
Ông có dám khẳng định những trường hợp trưởng thôn mà ông Tiến tìm hiểu, nghiên cứu để xây dựng nhân vật Khuyếnh đủ tính đại diện, có điển hình cho một số đông hay chỉ là cá biệt?
Tôi xin được nói rằng, điển hình ở đây không phải là nhân vật điển hình mà là một hiện tượng điển hình. Hiện tượng người dân vì quyền lợi trước mắt mà bị lú lẫn với những quyền dân chủ của họ. Nhiều lúc, không phải một ông trưởng thôn mà có một doanh nghiệp nào đó về quê hứa hẹn thế này thế kia là người dân đã bị sốt lên bởi tiền nong, bởi cơn sốt làm giàu, trong khi khả năng thì đang hạn chế. Chưa thích nghi được với công nghiệp, chưa có văn hóa để làm công nghiệp... nhưng lại rất dễ dàng ngốt lên vì sự giàu có và rất dễ bị lừa. Chúng ta nhìn nhận nhân vật trưởng thôn chỉ là một cái cớ, còn đám đông quần chúng mới là vấn đề. Cho nên đã có lần tôi phát biểu rằng nhiều người sẽ không thích “Gió làng Kình” như phim “Ma làng” vì nó đụng chạm đến chính người dân.
 
Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần.
Có ý kiến cho rằng phim quá đi sâu vào khai thác những chuyện nhỏ nhặt trong đời sống nông thôn, mà quên mất là ở nông thôn có một truyền thống rất tốt đẹp, đó là tính cố kết cộng đồng rất cao.  Ông nghĩ sao?
Trong phim có đề cập đến rất nhiều mối quan hệ ở nông thôn, trong đó mối quan hệ quan trọng nhất là quan hệ dòng họ. Ông trưởng thôn đã làm dòng họ Phạm phân hóa thành hai nhánh, cũng có nghĩa là ông ta đã dùng sự lưu manh của mình để phân hóa khối đoàn kết ở nông thôn. Thế nhưng, nếu bình tĩnh xem đến cuối phim thì sẽ thấy khối đoàn kết đó tỉnh ngộ ra và họ lại thành một khối đoàn kết.
Đề cập đến vấn đề đó để thấy rằng hiện nay khối đoàn kết ở nông thôn đang bị phân hóa bởi vì có những kẻ mưu mô, trục lợi cá nhân đã dùng mọi thủ đoạn để phân hóa nhau ra. Cũng xin tiết lộ, đến cuối phim người ta sẽ nhận ra vì sao Khuyếnh lại có thể làm được những chuyện tày trời như vậy vì hắn là một tên bệnh hoạn. Tên trưởng thôn này cũng không phải dòng dõi họ Phạm mà được một người họ Phạm nhặt về nuôi và khi phát hiện ra điều đó thì hắn trở nên điên loạn, trả thù lung tung... Khán giả sẽ thấy những nguyên nhân xã hội cũng như nguyên nhân thuộc về bản năng khiến cho nhân vật chính trở nên như thế.
Xin cảm ơn ông!
(Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội - Cuối tuần, số ra ngày 08/12/2008)
Hà Tùng Long

Tượng Phật cổ dưới đáy giếng chùa

Vào tháng 9/2004, Ni sư Thích Đàm Niệm – trụ trì chùa Duệ Khánh (còn có tên là Cổ Châu Tự, tọa lạc ở thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) cho trùng tu và tôn tạo lại các hạng mục công trình trong chùa do quá cũ kỹ. Đến ngày 13/10/2004, khi nạo vét giếng Thụ Tiên Ngọc Nữ trước tiền sảnh của chùa, tốp thợ cùng nhà chùa đã phát hiện được một pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni sơ sinh bằng đồng đỏ và hai chiếc chuông sắt hết sức độc đáo và quý giá.
Đáy giếng chứa báu vật
 
Theo Ni sư Thích Đàm Niệm và Phó giáo sư khảo cổ học Nguyễn Lân Cường, pho tượng mang hình dáng không giống với bất kỳ pho tượng Phật nào trên đất nước Việt Nam này.
 
Pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni sơ sinh bằng đồng đỏ. (Ảnh: Minh Thành).
 
Tượng tạc đức Phật ở thế đứng cởi trần, mặc váy và có giải thắt nút trước bụng. Hai tai to dài, dái tai rất dày, mắt mở to, miệng cười tủm tỉm với má lúm đồng tiền rất rõ ở hai bên, vầng trán cao rộng, trông hình hài ngộ nghĩnh như một chú bé con nhưng thần thái thì hết sức thông tuệ, sáng láng. Tay phải giơ lên, khuỷu tay gập lại, hai ngón tay trỏ và giữa duỗi thẳng chỉ lên trời, còn các ngón khác quặp lại. Tay trái duỗi thẳng và hai ngón trỏ và giữa khép chặt vào nhau chỉ xuống đất, các ngón tay còn lại bắt vào nhau theo tư thế tay thiền. Hai chân giang rộng bằng vai và đặt song song cạnh nhau. Trên ngực có hai núm vú được tạc nổi, giữa bụng có lỗ rốn rất to và rõ nét. 
 
Pho tượng cao 31cm, đứng trên một bông sen đường kính 11,5cm, cao 7cm. Chu vi lớn nhất của gương sen là 36cm. Ở trên mặt, có 12 hạt sen nhú lên. Có 9 cánh hoa sen ở lớp trên cùng, lớp giữa cũng có 9 cánh, lớp dưới cùng 8 cánh. Pho tượng bên trong là sắt, bên ngoài bọc một lớp đồng. Sau lưng có một lỗ yểm hình vuông mỗi chiều 2,3cm.
 
Theo Ni sư Đàm Niệm, khi mới tìm được pho tượng thì bông sen được gắn vào một cái cuống khá dài, nhưng vì không thể đặt đứng được, nên sau đó nhà chùa đã gắn pho tượng vào một đế vuông bằng xi măng thì tượng mới đứng được. Để tránh cho pho tượng quý này không bị bào mòn bởi thời gian, Ni sư Thích Đàm Niệm đã cho thiếp một lớp vàng thật phủ lên toàn pho tượng.
 
 
Cho đến nay, người ta vẫn chưa xác định được niên đại của pho tượng quý này, song dựa vào hình dáng đặc biệt của pho tượng, một số nhà nghiên cứu khảo cổ học đã phỏng đoán rằng, pho tượng xuất hiện từ thời nhà Lý – thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam và có thể chùa Duệ Khánh bây giờ khi xưa cũng là một trong những ngôi chùa lớn của xứ Kinh đô Phật giáo này.
 
Pho tượng còn thể hiện một trình độ điêu khắc và công nghệ đúc đồng hết sức phát triển thời bấy giờ. Người đúc nên pho tượng không phải là một thợ đúc đồng bình thường mà phải là người rất am hiểu và tinh thông Phật pháp.
 
Ngoài pho tượng Phật Thích Ca sơ sinh bằng đồng đỏ, cũng trong lần nạo vét giếng đó tốp thợ và nhà chùa còn phát hiện thêm hai quả chuông sắt vẫn còn nguyên vẹn. Một quả có trọng lượng hơn 10 kg, một quả khoảng 8 kg. Hai quả được đúc theo hình chuông phổ biến hiện nay.
 
Tuy nhiên, nếu xưa nay chuông phổ biến trong các nhà chùa đều được đúc bằng đồng thì hai quả chuông này lại được đúc bằng sắt trộn gang. Điều này đã khiến cho các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng, hai quả chuông này có thể được đúc vào những năm cuối của thế kỷ XIX.
 
Ni sư trụ trì Thích Đàm Niệm và hai quả chuông sắt được phát hiện. (Ảnh: Minh Thành).
 
Ni sư trụ trì còn cho biết thêm, theo lời của một số vị cao niên trong làng thì trước đây vì chiến tranh nên người làng đã buộc phải tiêu hủy toàn bộ kiến trúc của chùa cũ. Một số tượng Phật làm bằng gỗ được truyền lại từ đời xưa bị đốt còn một số báu vật bằng kim loại thì bị ném xuống giếng nhưng không biết trong số đó có bức tượng Phật cổ quý giá này không.
 
Chỉ nghe là ngày xưa chùa còn nổi tiếng với một khối xúc xích bằng đồng có kích thước rất lớn, nhưng hiện nay vẫn chưa tìm thấy. Có thể nó vẫn còn nằm đâu đó trong khuôn viên của nhà chùa mà chưa có cơ duyên tìm lại được.
Chuyện lạ xung quanh pho tượng
Theo Ni sư Thích Đàm Niệm, Thụ Tiên Ngọc Nữ - nơi tìm thấy pho tượng quý và hai quả chuông là chiếc giếng cổ còn sót lại, được nhắc đến trong một văn bản có tên là “Hương đài thạch trụ” bằng chữ Hán, năm Vĩnh Thịnh thứ hai đời vua Lê Dụ Tông. Theo văn bản này, chiếc giếng cổ này là dấu tích nơi viên ngọc quý của Thụ Tiên Ngọc Nữ rơi xuống.
 
Giếng Thụ Tiên Ngọc Nữ xưa, nay đã được thu nhỏ lại. (Ảnh: Minh Thành).
 
Chuyện kể rằng: Trong đám quần tiên trên thượng giới có nàng Thụ Tiên Ngọc Nữ, nguyên hóa thân từ một gốc mận già. Một hôm, Thụ Tiên Ngọc Nữ phạm lỗi khiến Thánh Tiên vương mẫu vô cùng tức giận, giáng chỉ đày nàng xuống hạ giới. Khi xuống hạ giới, thấy phong cảnh bên bờ sông Tiêu Tương hết sức đẹp đẽ, phồn hậu, không gian thanh bình nàng liền quyết định ở lại và dựng một am nhỏ thờ Phật cầu mong sớm được giải thoát. Trong thời gian ẩn cư tụ tập tại am, Thụ Tiên chuyên chú niệm Phật và ngày đêm cầu phúc cho dân, khuyến dân bỏ ác theo thiện. Một đêm, sau khóa kinh lễ Phật nàng đi dạo trong vùng chẳng may viên ngọc quý mà nàng mang theo từ chốn thiên cung bỗng rơi xuống đất, tỏa ánh hào quang và mảnh đất trước mặt nứt thành cái giếng sâu đầy nước trong vắt.
 
Dưới thời vua Lý Thái Tông biết chuyện nàng Thụ Tiên Ngọc Nữ, bèn xuống chiếu cho nhân dân địa phương dựng chùa thờ Phật tại nơi Thụ Tiên Ngọc Nữ từng tu tập. Chiếc giếng này hiện vẫn còn trong chùa nhưng đã được nhà chùa thu hẹp lại để xây dựng các công trình khác.
 
Cũng theo lời của sư trụ trì, sau khi tìm thấy pho tượng, toán thợ xây nhất quyết đòi nhà chùa phải trả pho tượng cho họ vì nghĩ đó là pho tượng đồng đen mà họ có công tìm thấy nhưng nhà chùa đã không đưa. Sợ họ có thể làm nhiều chuyện dại dột, nhiều vị cao niên trong làng đã khuyên vị sư trụ trì nên mang tượng đi gửi. Nghe theo lời của các vị cao niên, Ni sư Thích Đàm Niệm đã mang pho tượng vào gửi tại nhà một phật tử trong làng định khi nào hoàn thành xong đại đường Tam Bảo thì sẽ rước tượng về thờ. Nhưng lạ thay, khi mang tượng đi gửi được một thời gian thì sư trụ trì bỗng nhiên mất tiếng nói dù không ốm không đau. Các tăng ni, phật tử và sư trụ trì vô cùng lo lắng trước chuyện lạ chưa bao giờ gặp phải này. Đến lúc thấy mọi việc có vẻ như yên ắng nhờ sự can thiệp của chính quyền địa phương, nhà chùa cùng các tăng ni, phật tử rước tượng đức Phật về lại chùa thì vị sư trụ trì bỗng nhiên nói lại được như thường.
 
Mặt trước cổng chùa Duệ Khánh. (Ảnh: Minh Thành).
 
Khi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện này, sợ bị đưa lên báo nhiều người cho là mê tín dị đoan nên nhà sư trụ trì tâm sự thật lòng: “Đây là chuyện lạ mà có thật, tôi tâm sự với các nhà báo để các nhà báo có thêm thông tin chứ không phải là người mê tín hay bịa đặt. Nhà chùa không hề nói dối mà chỉ kể lại theo đúng sự thật những gì đã diễn ra có sự chứng kiến của rất nhiều phật tử trong làng, ngoài làng... Tôi nghĩ âu đó cũng là một mối lương duyên thiên định. Xưa nay, Ngài vốn ngự nơi chốn này nên rước Ngài ra khỏi vùng đất của Ngài là trái đạo, không bao giờ Ngài chịu cho rước đi đâu”. Hiện pho tượng quý này được Ni sư Thích Đàm Niệm cất giấu và thờ phụng rất cẩn thận.
 (Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội - Cuối tuần, Số ra ngày 15/2/2009)
Hà Tùng Long

Dị nhân “đội” tóc rồng

Theo thước đo của chúng tôi mang theo thì mái tóc kỳ lạ này dài tới gần 1m, chiều ngang của nó đoạn lớn nhất lên đến 20cm, đoạn nhỏ nhất cũng tới 8cm.
Nhiều lần về Bắc Ninh công tác, chúng tôi có nghe người dân ở đây truyền tai nhau những câu chuyện kỳ lạ về mái tóc kết hình đầu rồng của một ông già 70 tuổi tên là Long Tiên ở thôn Duệ Đông, thị trấn Lim, Tiên Du, Bắc Ninh. Và thật may mắn, vào đúng lễ hội Lim năm nay chúng tôi đã được tận mắt nhìn thấy mái tóc lạ kỳ ấy.
 
Ông Long Tiên có mái tóc kết hình đầu rồng. Ông có thể nhìn mặt trời hàng tiếng mà không bị choáng.
 
Mặc dù dòng người đổ về dự hội Lim rất đông nhưng hình ảnh một ông già mặc bộ quần áo màu vàng, trên đầu có mái tóc kết hình dáng rất giống đầu của một con rồng đang bước chân thoăn thoắt theo đoàn rước đã làm cho nhiều người ngỡ ngàng. Nhưng do quá đông người, chúng tôi đã không thể tiếp xúc được ông già có mái tóc kỳ lạ này ngay tại hội Lim mà phải tìm về tận nhà ông mới gặp được.
 
Từ mái tóc kết kỳ dị
 
Thật dễ dàng để hỏi ra nhà ông già Long Tiên có mái tóc kết kỳ lạ, bởi cả thị trấn Lim này từ người già đến trẻ con ai cũng biết nhà ông. Khi chúng tôi tìm đến nơi thì ông đi hội chưa về. Phải ngót chục lần đi lại, chúng tôi mới được gặp ông trong căn nhà cũ nát như chỉ chực chờ một trận gió mạnh là đổ ụp xuống. Ôngcho biết, căn nhà này là do cha mẹ để lại cho ông. Các cụ làm căn nhà này khi ông còn chưa đẻ, nghĩa là tính sơ sơ, tuổi thọ của căn này cũng trên 70 năm. Đến đời ông, vì quá nghèo nên cũng chẳng đủ tiền để tu sửa lại.
 
Khi duỗi ra, mái tóc của ông Long Tiên rất giống con rắn hổ mang với phần đuôi tóc có ba lọn tóc dài tủa ra như ba sợi râu của con rắn hổ mang chúa.
 
Nóng lòng muốn biết những chuyện lạ xung quanh mái tóc do chính chủ nhân của nó kể lại đã khiến chúng tôi đứng ngay ngoài sân nhà để nghe chuyện.
 
Ông Tiên kể rằng: Năm 1994, vào một mùa hè nóng nực, tự nhiên ông nổi hứng muốn hành trình về đất Phật Yên Tử. Vậy là đúng vào thời điểm trời nóng như đổ lửa, cỏ cây cũng héo úa và xơ xác vì nóng thì ông lại một mình leo lên non thiêng Yên Tử để lễ chư Phật. Leo gần đến cổng chùa thì đúng chính ngọ. Lúc này không biết có phải vì hoa mắt do trời quá nắng nóng hay vì quá mệt do phải leo núi mà ông nhìn thấy có một bóng người, mờ mờ ảo ảo, mặc một bộ nâu sòng đi trước dẫn đường cho ông. Sau chuyến đi ấy, khi về nhà ông bị ốm một trận thập tử nhất sinh. Đến lúc khỏe lại, thấy tóc tai vướng víu khó chịu, ông đem lược ra để chải thì không chải được. Ông lấy kéo rồi nhờ đứa cháu họ cắt ngắn mái tóc của mình lên thì chỉ có thể cắt được những mảng tóc ở hai bên đầu còn ở giữa đầu và phần tóc ở gáy thì không thể nào cắt nổi.
 
Nhiều lần thấy vướng víu, khó chịu ông tự tay dùng kéo cắt mà không được. Sau những lần cắt không thành ấy, tự dưng ông gặp toàn chuyện xui xẻo. Lúc thì bị ốm hàng tháng không húp nổi bát cháo, lúc lại bị tai nạn xe máy đâm vào người, lúc lại bị điện giật... Sau nhiều lần như thế, ông không dám cắt tóc nữa. Cũng từ đó, ông bắt đầu tập ăn chay và chuyên tâm niệm Phật tại nhà.
 
 
Đến năm 1997, khi ông tròn 55 tuổi, sau một đêm ngủ, ông phát hiện ra mái tóc dài của mình tự dưng bị kết lại, dính bệt với nhau không tài nào gỡ ra được...
 
Với kinh nghiệm của một người lính từng có nhiều năm chiến đấu trong quân ngũ, ông Tiên hiểu rằng khi tóc bị kết thì không thể cắt, cạo hay làm bất cứ điều gì khác ngoài việc sống chung với nó. Tuy tóc bị kết lại nhưng ông vẫn cảm thấy bình thường, không hề có cảm giác gì khó chịu cả. Cũng từ đó, ông sống chung với mái tóc kết của mình. Mái tóc cứ mỗi ngày một dài thêm và chuyển dần sang màu vàng rồi trắng. Vì quá dài nên ông Long buộc phải gấp lại thành nhiều độn dùng dây để buộc lại cho gọn. Dù thế, ông chưa bao giờ dùng thước hay một dụng cụ gì để đo đếm xem mái tóc của mình dài bao nhiêu. Có thể như ông lão kỵ một điều gì đó. Tôi phải thuyết phục mãi, ông mới chịu gỡ những chiếc dây vải màu đỏ buộc những lọn tóc trên đầu xuống cho chúng tôi đo.
 
Thật lạ kỳ, mái tóc khi được duỗi ra trông chẳng khác gì một con rắn hổ mang với phần đuôi tóc là đầu rắn bởi nơi này là nơi phình ra to nhất, ở đó còn có ba lọn tóc dài tủa ra như ba sợi râu của con rắn hổ mang chúa. Nhưng nếu gấp khúc rồi buộc lại trên đỉnh đầu thì mái tóc này chẳng khác gì đầu của một con rồng đang trong tư thế ngẩng mặt bay lên Trời. Theo thước đo của chúng tôi mang theo thì mái tóc kỳ lạ này dài tới gần 1m, chiều ngang của nó đoạn lớn nhất lên đến 20cm, đoạn nhỏ nhất cũng tới 8cm. Từ đầu đến cuối đoạn tóc đều có màu vàng đan xen trắng và bị kết dính lại rất chặt với nhau.
 
 
Đến con người kỳ lạ
 
Khi hỏi thăm một số người trong thôn Duệ Đông nhà ông Long Tiên, nhiều người nhìn chúng tôi e ngại. Nhận thấy có sự khác thường trong ánh mắt của mọi người, chúng tôi đã thuyết phục một bà cụ 75 tuổi, là hàng xóm của ông Long Tiên để hỏi thực hư thì bà chỉ ôn tồn dặn mấy câu: “Mấy chú tìm ông Tiên có việc gì tôi không biết, nhưng tôi dặn các chú là hãy cẩn thận. Ông ấy không phải là người bình thường đâu. Ông ấy hâm hâm, dở dở, nói năng vớ vẩn lắm cho nên qua năm đời vợ rồi mà vẫn phải sống một mình...”.
 
Nghe vậy thì chúng tôi biết vậy nhưng vì chưa được gặp chính chủ của mái tóc kết đầu rồng nên chưa dám có ý nghĩ gì khác. Trong căn nhà xập xệ của ông, la liệt toàn nồi niêu, quần áo cũ và kinh Phật nằm ngổn ngang, chỏng chơ trên nền nhà, trên tủ gỗ. Trong ngôi nhà của ông có lẽ không có gì quý giá ngoài chiếc xe đạp thống nhất đã cũ. Ông kể rằng, đó là chiếc xe đạp mà đơn vị tặng ông lúc ra quân.
 
Chuyện là năm 1961, ông tham gia quân ngũ và được phân về trung đoàn 230 Phòng không – Không quân ở Giảng Võ, Hà Nội. Sau 12 năm 6 tháng (tức là đến 1973) ông ra quân trở về quê. Trước lúc về, anh em trong đơn vị có tặng ông một chiếc xe đạp làm phương tiện đi lại.
 
 
Ngoài ra, trên một chiếc tủ gỗ đã cũ còn có hai bàn thờ Phật. Không biết ông có phải là một phật tử mộ đạo quá không mà sau khi kết thúc câu chuyện về mái tóc, ông luôn miệng đề cập đến đạo pháp. Ông giở cho chúng tôi nhiều trang kinh Phật đã được ông cẩn thận gạch mực đỏ dưới chân để giải thích với chúng tôi một điều, ông là hiện thân của đức Phật A Di Đà. Ông còn khoe rằng kể từ lúc ông bị kết tóc tự dưng thấy khỏe hơn xưa. Trong người lúc nào cũng có một nguồn năng lượng tràn trề muốn truyền cho người khác nhưng không có ai đáng để truyền cả. Gần đây, ông còn kiêm thêm nghề chữa bệnh.
 
Ông tự hào: “Tôi đã từng chữa cho nhiều người bị bệnh nan y và đa số họ đều khỏi hết...”???. Nói đoạn, ông chỉ cho chúng tôi một sợi lông trắng mềm nhuyễn như bông nằm ngay giữa hai lông mày, đuôi lệch về bên hữu và chỉ vào một đoạn trong kinh Phật cũng miêu tả về hình dáng của một vị Phật cũng có đặc điểm như thế để chúng tôi tin hơn rằng ông đang mang hình tướng của đức Phật.
 
 
Cũng trong lúc “xuất thần” khi kể chuyện ông có khả năng đứng nhìn Mặt trời cả ngày mà không hề hấn gì, ông lôi chúng tôi ra ngoài sân bằng được để xem ông trổ tài ngắm Mặt trời. Và quả thật, trước mắt chúng tôi, ông đứng lặng yên nhìn về phía Mặt trời tới 20 phút rồi mới chịu nhìn về phía chúng tôi giải thích về thói quen lạ thường này. Ông bảo: “Mặt trời là một vì tinh tú có nhiều nguồn năng lượng vi diệu. Ngay từ lần đầu tiên tập thói quen nhìn Mặt trời trong mỗi ngày, tôi đã có thể nhìn tới hàng tiếng đồng hồ mà không bị choáng...”.
 
Cho đến bây giờ, nhiều người làng là bà con thân thích và hàng xóm vẫn không tài nào hiểu được những hành động lạ thường của ông già 70 tuổi này, kể cả mái tóc kỳ dị, hiếm có của ông nữa.
 (Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội - Cuối tuần, Số ra ngày 19/2/1009)
Hà Tùng Long

'Xóm trọ nghĩa trang' giữa lòng thủ đô

Có một xóm trọ ngay giữa lòng Hà Nội với hàng trăm sinh viên phải ngày đêm sống chung với những ngôi mộ của người chết. Xóm trọ đó được sinh viên ở đây gọi bằng một cái tên ngộ ngĩnh “xóm trọ nghĩa trang” – vì nó nằm cạnh nghĩa trang ở ngõ 207 Bùi Xương Trạch (phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội).
Sống chung với mộ
Muốn đi vào được xóm trọ này, người ta phải đi trên một con đường “dát” đầy bùn và bụi than. Mùa hè, những bụi than đen sì bay tứ tung theo gió vào tận từng phòng trọ bám đầy vào quần áo hoặc những vật dụng trong nhà. Mùa đông, con đường nhỏ chỉ đủ cho 3 chiếc xe máy cùng đi này lại nổi lên một “lớp áo” nhầy nhụa, đen đúa chẳng khác nào sình lầy trong rừng rậm U Minh. Đi hết con đường này phải băng qua hàng nghìn ngôi mộ thì mới vào được xóm trọ.
Hầu hết các phòng trọ đều được xây dựng một cách tự phát, do những người dân thổ cư hoặc dân ngụ cư ở các tỉnh khác đến lấn chiếm và xây dựng rồi cho người lao động, sinh viên nghèo thuê. Do ở xa khu trung tâm, phòng xây tạm bợ nên giá cả của các phòng trọ ở đây có phần “mềm” hơn những nơi khác. Bởi thế, nhiều sinh viên tỉnh lẻ nghèo khó đành chấp nhận thuê trọ và sống chung với những ngôi mộ ở nghĩa trang này.
Nhiều sinh viên lúc mới đến trọ ở đây cứ hễ trời tối lại không dám ra khỏi nhà vì sợ. Còn chuyện giật mình hằng đêm vì tiếng côn trùng rả rích, tiếng khóc vọng ra từ khu nghĩa trang hay những mùi hôi thối bốc lên là chuyện “cơm bữa”.
 
 
Phải băng qua hàng nghìn ngôi mộ mới vào được xóm trọ. (Ảnh: ĐC)
Sinh viên quanh khu này vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện vui của một sinh viên năm thứ 1, ĐH Thủy Lợi, tên là Hoàng Thu Hương khi lần đầu tiên đến trọ ở đây. Đang lúc ăn cơm, nghe tiếng khóc thảm thiết ở ngoài khu nghĩa trang vọng vào, Hương sợ quá ngất xỉu luôn bên mâm cơm.
Nguyễn Hà An, sinh viên năm 3 ngành Tài chính – Ngân hàng, ĐH Hà Nội vẫn còn run rẩy mỗi khi nhớ lại những ngày mới bắt đầu “nhập cư” ở đây: “Lúc mới đến ở, cứ hôm nào học ca chiều mà tan lớp muộn là phải nhắm mắt nhắm mũi và phóng như một con thiêu thân về nhà trước khi mặt trời khuất. Nhiều lúc học về muộn thì phải ngủ lại nhà bạn chứ không dám đi về một mình trên con đường tối om, không người qua lại này”.
 
Còn Phan Thùy Dương, sinh viên năm thứ 2 khoa Văn học Trường ĐH KHXH & NV cho hay, những hôm có các buổi tọa đàm, hội thảo hay họp lớp quan trọng, các sinh viên nữ phải rủ nhau đi theo nhóm. Nhưng lúc về đến nơi vẫn không dám bước vào ngõ mà phải tìm chỗ đèn sáng rồi gọi điện nhờ các nam sinh viên cùng dãy trọ cầm đèn pin ra đón. Còn những hôm ngày rằm, mồng một con cháu người đã khuất đến thắp hương rất đông khiến không gian đặc quánh một mùi khó chịu. Mùi hương, vàng... và mùi bùn than quyện vào nhau len lỏi vào tận từng phòng khiến nhiều sinh viên ăn ngồi không yên. Những lúc đó, sinh viên quanh khu nghĩa trang buộc phải tìm đường lánh nạn sang nhà trọ của bạn bè, người thân ở những nơi khác.
 
Nguyễn Thị Tú Oanh - SV ĐHKHXH & NV bên cạnh chậu nước vừa bơm lên có những báng mỡ nổi lềnh bềnh trên bề mặt.
Dùng nước nhiễm mỡ người chết?
Một nghịch lý dễ thấy là dù có trạm máy nước Khương Trung cách đó không xa nhưng sinh viên, người thuê trọ vẫn phải sử dụng nước giếng khoan.
Lý giải điều này, ông Dương Đức Khoa, Phó Chủ tịch UBND phường Khương Đình cho biết: “Từ năm 1990 trở lại đây, có một số hộ gia đình tự ý mua bán, trao đổi và xây dựng nhà ở trái phép trên đất sản xuất nông nghiệp nên không dám đăng ký sử dụng hệ thống nước máy chung với một số hộ dân cư khác. Ngoài ra, do số dân của phường tăng lên tới 6 vạn trong khi trữ lượng nước của trạm cung cấp nước Khương Trung chỉ có thể cung cấp nước cho 3 vạn dân nên tình trạng thiếu nước xảy ra là điều dễ hiểu”.
Do nằm quá gần khu nghĩa trang nên nước giếng khoan ở đây bị ô nhiễm trầm trọng. Nước giếng mỗi lần bơm lên bao giờ cũng có sạn đen, nước có màu vàng đục và thậm chí vào mùa đông sinh viên còn phát hiện có những lớp váng mỡ bóng nhẫy nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Những váng mỡ đó bắt nguồn từ những xác người chết lâu ngày phân hủy ngấm vào đất và theo mạch nước ngầm “xuất hiện” tại các bể chứa nước ở đây.
 
Bể lọc nước thô sơ phổ biến ở các dãy trọ sinh viên của "xóm trọ nghĩa trang".
Quan sát quanh khu “xóm trọ nghĩa trang” hầu hết các bể lọc nước đều được xây dựng hết sức thô sơ theo kiểu bể bê tông, bên trong chứa một ít cát. Nhiều nhà “công nghệ” hơn thì xây hai bể lọc nối liền nhau, nước được bơm lên bể to trên cùng, sau khi lọc qua một lần chảy xuống bể dưới, từ bể dưới lọc thêm lần nữa mới đưa vào sử dụng nhưng nước vẫn còn màu vàng đục, trong nước vẫn còn có những hạt cát nhỏ thậm chí là loăng quăng, bọ gậy và bốc mùi rất khó chịu. Để khắc phục tình trạng này, nhiều sinh viên phải tự chế ra những cách lọc nước của riêng mình.
Hoàng Hải – Sinh viên khoa Kế toán của Học viện Ngân hàng cho hay: “Trước tình trạng nước bị ô nhiễm như thế, bọn em buộc phải chế ra nhiều cách để lọc nước bẩn. Nước đã được lọc qua một bể ở trên trần nhà, nhưng khi xuống đến từng phòng thì còn quấn thêm mấy lần giẻ nữa vào vòi để lọc nước hoặc nếu không thì dùng phèn chua để lắng cặn sau đó lọc lấy nước trong. Vậy mà nước sau khi lọc xong múc vào cốc thủy tinh vẫn có màu tím nhạt hoặc đen nhạt, nếu cho một ít nước trà vào là nước chuyển sang màu tím than. Mới đây, mấy phòng chung nhau mua được một bồn lọc nước vì lọc nước thủ công mất nhiều thời gian quá”.
 
Nước sau khi lọc qua hai bể mà cho một vài giọt nước trà vào đã chuyển sang màu tím đậm.
Với bộ mặt rầu rĩ, Nguyễn Thị Tú Oanh – sinh viên ĐH KHXH & NV kể: “Chủ nhà thì lúc nào cũng bảo với bọn em đây là nước máy nhưng khi leo lên bể thì hàng lớp cặn vàng dày cộm bám hai bên thành bể. Hàng ngày, muốn đánh răng rửa mặt cho kịp giờ học buổi sáng là phải “xử lý” nước từ tối nếu không thì phải chờ ít nhất 20 phút, nước mới lắng cặn. Còn nước dùng để nấu ăn thì phải mua nước tinh khiết chứ không thể dùng nước ở đây được. Bạn em trước đến ở chưa đầy một tháng đã nổi mẩn ngứa khắp người vì dị ứng với nguồn nước khiến bạn ấy phải điều trị cả tháng trời mới khỏi”.
Nhưng không phải ai trong xóm trọ nghèo này cũng có điều kiện mua được nước tinh khiết về nấu ăn như Tú Oanh. Rất nhiều sinh viên vẫn phải dùng nước giếng khoan để nấu ăn, dù vẫn biết đó là nước “cứng”. Dùng nước để nấu ăn nhưng nấu lên rồi có ăn được không lại là chuyện khác. Theo lời của một số sinh viên ở số nhà 210/207 Bùi Xương Trạch, sau khi dùng nước này để luộc rau lên không dám ăn vì rau chuyển từ xanh sang đen, cơm thì có mùi rất tanh và cũng chuyển màu. Có hôm nấu lên rồi cả phòng nhìn nhau dở khóc dở cười vì không ăn nổi. Vào những mùa dịch bệnh, nhiều sinh viên phải bỏ về quê hoặc không dám nấu ăn vì sợ dịch bệnh, thế nhưng vẫn không tránh khỏi. Chỉ mới cách đây khoảng 2 tháng, cả một dãy trọ 9 phòng đã có tới 5 phòng bị tiêu chảy, một phần do sử dụng nguồn nước ô nhiễm.
Phần lớn sinh viên sống ở “xóm trọ nghĩa trang” đều có hoàn cảnh khó khăn. Họ buộc phải chấp nhận trọ ở những vùng sâu vùng xa hầu mong có được một môi trường để yên tâm học hành. Thế nhưng, những hiểm họa về môi trường, về an ninh và nguồn nước đang ngày đêm đe dọa cuộc sống khiến cho những sinh viên nghèo ở “xóm trọ nghĩa trang” trở nên hoang mang không biết đi về đâu. 
(Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội - Cuối tuần, Số ra ngày 9/1/2009)
Hà Tùng Long

Bí ẩn gỗ hóa thạch

Hàng triệu năm nằm sâu trong lòng đất, chịu bao biến đổi của vỏ Trái đất, nhiều khối gỗ hóa thạch biến thành nhiều dạng đá kỳ lạ. Những khối đá này tích tụ nhiều nguồn năng lượng và linh khí nên có không ít những quan niệm rằng chúng có thể chữa bệnh. Dù chuyện khả năng chữa bệnh của gỗ hóa thạch vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng nhưng với những giá trị nghệ thuật và lịch sử, các bản gỗ hóa thạch vẫn được săn tìm.
Kỳ vật của thiên nhiên
Những khối gỗ hóa thạch không những có giá trị về mặt khoa học mà còn là những tác phẩm nghệ thuật tự nhiên hết sức độc đáo. Có lẽ vì thế, ngày nay những người sành chơi cổ thạch của Việt Nam thường bôn tẩu ngược xuôi khắp các vùng núi cao, vùng Tây Nguyên, vùng đất đỏ bazan... để săn cho được những mẫu gỗ hóa thạch nằm sâu trong lòng đất.
Khối gỗ hóa thạch có mặt giống với trống đồng.
Khối gỗ hóa thạch được xem là lớn nhất Việt Nam hiện nay là khối gỗ được phát hiện tại xã Chư A Thai, huyện Ayunpa, tỉnh Gia Lai. Qua giám định tại Trung tâm nghiên cứu địa chất đá quý đã xác định đây là loại gỗ hóa thạch có niên đại 100.000 năm trước. Kích thước của cây gỗ hóa thạch có đoạn gốc cao 1,6m, rộng 1,4-1,6m, đoạn liền gốc cao 3,6m với đường kính 1,1-1,3m, đoạn thân dài 4,4m với đường kính 0,9-1,1m, phần lõi phía trong của đoạn này vẫn còn lớp mùn gỗ do chưa hóa thạch hoàn toàn. Nhìn bên ngoài cả khối gỗ hóa thạch này chẳng khác nào một cây gỗ, nhưng gõ vào mới biết là đã hóa thạch. Nhìn kỹ sẽ thấy những chỗ phân đoạn có vết tích của mã não do tác dụng của sự chuyển đổi từ gỗ thành đá. Năm 2006, trung tâm kỷ lục Việt Nam đã đề xuất khối gỗ hóa thạch này vào kỷ lục Guiness Việt Nam. Hiện khối gỗ hóa thạch này đang được trưng bày tại Công viên Đồng Xanh - thành phố Pleiku, Gia Lai.
Khối gỗ hóa thạch lớn thứ hai do 3 nghệ nhân Nguyễn Văn Lâm, Ngô Công Quý và Hồ Khiêm đã phát hiện ra vào tháng 5/2002 ở một khe đá, thuộc Hòn Khói, Khánh Hoà. Cây gỗ hóa thạch cổ thụ này nằm kẹp giữa một khe đá, có những vân đá hình mắt cây, vỏ cây, thớ gỗ... vẫn còn vẹn nguyên, nhìn khá rõ. Toàn thân màu xanh đen pha lẫn vàng nhạt, dài 6,7 mét, đường kính ngọn chừng 40-50 cm, phần gốc khoảng 60-70 cm. Theo PGS Trịnh Dánh – Chủ tịch hội cổ sinh địa tầng Việt Nam thì 3 nghệ nhân tìm thấy là gỗ hóa thạch của một loài cây lá kim. Nếu cùng tuổi với thành tạo địa chất ở đó, thì nó có niên đại cách đây khoảng 250-300 triệu năm.
Ông Lê Mạnh Tuấn và khối gỗ hóa thạch sưu tầm được từ lòng hồ Trị An.
Một khối gỗ hóa thạch khác, tương đối đặc biệt vì có nhiều họa tiết độc đáo hiện đang được trưng bày tại phòng trưng bày cổ thạch của nghệ nhân Lê Mạnh Tuấn – Trưởng ban sưu tầm và phát triển cổ thạch thuộc Hội sản văn hóa Việt Nam. Khối gỗ này được ông Tuấn phát hiện ra trong một lần tham dự Festival về sinh vật cảnh ở TP Hồ Chí Minh. Theo ông Tuấn, bản gỗ hóa thạch này được khai quật từ lòng hồ Trị An, hội đủ ba yếu tố Tam vương (kỳ thư, dị mộc, quái thạch). Kỳ thư vì có những họa tiết đẹp liên tưởng đến hình con rồng, hình trống đồng và hình mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân... Dị mộc vì nó là hóa thạch của gỗ có tuổi trên dưới 200 triệu năm và quái thạch vì nằm trên nền ngọc Agat. Đây là mẫu gỗ hóa thạch kỳ lạ và hiếm hoi nhất mà ông từng gặp. Nó cũng là khối gỗ hóa thạch được ông Tuấn lựa chọn để đưa vào bộ sưu tập trưng bày kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội sắp tới.
Theo ông Nguyễn Việt Hưng – Giám đốc bảo tàng địa chất Việt Nam thì: “Ở Việt Nam vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, vùng núi phía Bắc... là vùng có nhiều mẫu gỗ hóa thạch được tìm thấy nhất. Riêng chủng loại hóa thạch trên thực vật không chỉ có gỗ hóa thạch mà người ta còn tìm thấy cả hoa, lá, dương xỉ hóa thạch...”.
Khối gỗ hóa thạch của một cây họ cơm cháy.

Gỗ hóa thạch có thể chữa bệnh?
Từ thời cổ đại, người dân của các quốc gia La Mã, Babylon, Asyria... dùng gỗ hóa thạch như một loại mỹ nghệ. Từ gỗ hóa thạch người ta chế tác ra những chuỗi hạt, gắn vào nhẫn, ngọc treo và ngọc bội... để làm đồ trang sức. Cũng có một số tộc người dùng gỗ hóa thạch để chữa bệnh vì họ quan niệm gỗ hóa thạch không có biểu tượng tương ứng chính xác trong cung hoàng đạo, năng lượng cảm thụ của “Âm” nên nó rất lành tính.
Quả hóa thạch của một loại cây họ kim.
Trong Y học dân gian Mông Cổ, người ta dùng những tấm gỗ hóa thạch tìm thấy trong sa mạc Gôbi áp vào khớp để chữa bệnh viêm khớp và những bệnh tương tự. Họ quan niệm, gỗ hóa thạch làm tăng tuổi thọ của chủ nhân, bởi nó làm cho hệ thần kinh vững vàng hơn. Tuy nhiên, cũng có một số người nghiêng theo hướng coi cây là cầu nối nối bầu trời với mặt đất, một trong số những biểu tượng toàn năng của vũ trụ. Do đó, mỗi mẩu gỗ hóa thạch đều trở thành lá bùa độc đáo mang theo biểu trưng của quá khứ.
Ở Việt Nam, việc dùng gỗ hóa thạch để chữa bệnh trong dân gian chưa có nhiều tài liệu nói đến. Nhưng theo nhà cảm xạ Dư Quang Châu - Chủ nhiệm Bộ môn Năng lượng Cảm xạ thuộc Liên hiệp Khoa học công nghệ và tin học ứng dụng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng cảm xạ địa sinh học thuộc Đại học Hồng Bàng, TP Hồ Chí Minh khẳng định gỗ hóa thạch có thể chữa bệnh. “Gỗ hóa thạch được dùng chữa các chứng đau nhức khớp, viêm đa khớp dạng thấp. Đeo chuỗi gỗ hoá thạch có thể đạt được từ trường “trường thọ”, có tác dụng kéo dài tuổi thọ, lưu thông khí huyết. Về tinh thần: gỗ hóa thạch tạo ý chí trong cuộc sống, khơi dậy tiềm năng và giúp người đeo nó vững tin và kiên định. Dùng để trị thương, giải bùa, phù chú bằng khí công, làm tăng cường năng lượng...”.
Thân gỗ hóa thạch của cây cơm nguội.
Do đặc tính của gỗ hóa thạch là nằm sâu dưới lòng đất hàng triệu năm nên trong nó luôn chứa một loại từ trường rất lớn. Loại từ trường này theo y học phương Đông có ảnh hưởng tới luân xa vùng xương cùng, cung cấp năng lượng cho trực tràng và bộ máy nâng đỡ - vận động; tạo ý chí trong cuộc sống, năng lượng thể chất, khơi dậy cảm giác vững tin và kiên định. Còn các nhà văn hóa phương Đông thì dựa vào thuyết ngũ hành để giải thích quá trình chuyển hóa của gỗ hóa thạch như sau: từ Gỗ (màu xanh – hành Mộc) chuyển sang màu Đỏ (hành Hỏa) rồi màu Trắng (hành Kim), màu Vàng (hành Thổ), màu Đen, Nâu (hành Thủy) khi chuyển lại màu xanh da trời thì có thể loại được một số độc tố trong cơ thể nhằm giúp cơ thể khỏa mạnh, dẻo dai, sống trường thọ.
Không phủ định tác dụng chữa bệnh của gỗ hóa thạch nhưng theo ông Nguyễn Việt Hưng – Giám đốc bảo tàng địa chất Việt Nam thì: “Không nên lạm dụng gỗ hóa thạch để chữa bệnh vì còn tùy vào thể chất của từng người. Nếu người đó hợp với nguồn vi chất có trong gỗ hóa thạch thì việc đá chữa bệnh có thể xảy ra còn nếu thể chất không tương hợp với nguồn vi chất trong gỗ hóa thạch thì không những không chữa được bệnh mà còn sinh ra một số tác dụng phụ...”.
Vốn là sản phẩm của tự nhiên, lại được hình thành hàng trăm triệu năm nên cho đến bây giờ gỗ hóa thạch vẫn còn mang trong nó nhiều bí ẩn. Tuy nhiên, giá trị nghệ thuật, giá trị vật chất cũng như một số hữu ích mà gỗ hóa thạch đã mang lại cho con người thì đã được nhân loại chứng minh qua thời kỳ lịch sử khá dài từ La Mã cổ đại cho đến ngày nay.
Thường trong gỗ hóa thạch vẫn lưu giữ những vòng sinh trưởng và thậm chí cả cấu trúc tế bào rất tinh vi chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi. Đôi khi còn xuất hiện những họa tiết thứ cấp trông giống như đường phân chia trên bề mặt ngọc bích hoặc agat. Đa số gỗ hóa thạch đều có màu xám và nâu, tuy nhiên cũng có loại có màu phớt đỏ, vàng và thậm chí cả màu xanh da trời trông rất đẹp.
 (Bài đã được đăng trên báo Gia đình & Xã hội - Cuối tuần số ra ngày 18/12/2008)
Hà Tùng Long