Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Bí ẩn đường hầm xuyên núi Bà Chúa Kho

Mỗi năm đền Bà Chúa Kho đón hàng ngàn khách thập phương về tham quan, hành lễ. Ít ai biết được, đằng sau ngôi đền khang trang đó là một đường hầm bí mật nằm sâu trong lòng núi, xuyên từ đầu núi ra tận bến sông Như Nguyệt (ngày nay là sông Cầu).
Không ai biết đường hầm có từ bao giờ. Ngay cả những người già nhất trong thôn Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh - nơi có đền thờ Bà Chúa Kho cũng chỉ có thể biết được khi họ lớn lên đã nhìn thấy đường hầm và vào thời Pháp - Nhật giao tranh, đường hầm được sử dụng làm nơi trú ngụ của bộ máy hành chính và công nhân Nhà máy giấy Đáp Cầu mà thôi.
Cửa hầm từng bị bịt kín bởi một bức tường bằng gạch đỏ nhưng trải qua thời gian, góc phải của bức tường đã bị đổ nát, đủ cho một người chui qua để đi sâu vào hầm.
Đường hầm xuyên lòng núi
Đường hầm nằm sát ngay sau khu đền thờ Bà Chúa Kho và chỉ cách bức tường chính điện thờ bà Chúa khoảng 1,5m. Theo quan sát của chúng tôi, cửa hầm từng bị bịt kín bởi một bức tường được xây bằng gạch đỏ và xi măng, nhưng do lâu ngày bị bỏ hoang nên góc phải của bức tường đã bị đổ nát, đủ cho một người chui qua để đi sâu vào hầm. Xung quanh cửa hầm bụi và mạng nhện bám đầy lối đi.
Để vào sâu bên trong hầm chúng tôi đã phải dùng tới 2 chiếc đèn pin loại bóng tuýp lớn và một bó đuốc. Chui qua miệng hầm, phải bước qua khoảng 20 bậc thang cũng được xây bằng gạch đỏ, xi măng rất kiên cố mới tới con đường bằng phẳng đi thẳng vào hầm. Càng đi sâu lối đi càng được mở rộng dần.
Đường hầm được kiến trúc theo kiểu mái vòm hình chữ u, trần đường hầm được bao bọc bằng đá xanh (loại đá thường dùng để xây dựng), nhiều chỗ có hình thù khá độc đáo. Hai bên thành đường hầm được trát bằng xi măng, mỗi đoạn lại được thiết kế một ô hình chữ nhật nằm lùi vào vách núi. Do bị bỏ hoang quá lâu nên trên nền đường hầm gạch vữa sụp đổ ngổn ngang, bùn đất nhão nhoét, bốc mùi ẩm mốc rất khó chịu. Chiều cao từ trần đến nền hầm chỗ cao nhất ước chừng khoảng 2m, còn chỗ thấp nhất cũng tới 1,8m.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thùy, 62 tuổi - thành viên Ban an ninh bảo vệ khu di tích đền Bà Chúa Kho - người dẫn chúng tôi đi “thám hiểm” thì tính từ cửa vào đến chỗ sâu nhất của đường hầm là khoảng 30m, càng đi sâu đến cuối hầm đường đi càng bằng phẳng, thẳng góc. Cách cửa đường hầm khoảng 200m về phía trái là một căn phòng rộng chừng 3m, cao khoảng 2m, bên trong còn có một cái bàn làm bằng bê tông và rất nhiều khối bê tông đổ nát ngổn ngang. Những người dân địa phương ở đây cho biết, dưới thời Pháp - Nhật giao tranh, căn phòng này là nơi trú ẩn cũng là nơi làm việc của chủ Peto, người Pháp (chủ nhà máy giấy Đáp Cầu) nhằm tránh sự tấn công của quân Nhật.
Một điểm khác biệt của đường hầm này là càng đi vào sâu bên trong lại càng ít lối rẽ, không giống với những đường hầm ở Quảng Trị, Củ Chi có rất nhiều lối rẽ ngang dọc. Đi hết đường hầm độc đáo này là qua bên kia chân núi Kho (nay là đồi Cổ Mễ), với tổng chiều dài ước chừng hơn 500m. Cửa ra bên kia của đường hầm giáp với một con đường nhỏ dẫn ra sông Như Nguyệt, cảnh quan khá thoáng đãng, đẹp đẽ.
Ông Thùy cho biết: “Đường hầm dù tồn tại từ rất lâu đời, lại bị bỏ hoang bao nhiêu năm nhưng dường như vẫn giữ được khá nguyên vẹn những công trình kiến trúc bên trong. Trước đây trong hầm có rất nhiều loại rắn, dơi, chuột... cư ngụ. Thời lên 9, lên 10, mỗi lần ra đây thả trâu tôi cùng mấy đứa bạn lại đốt đuốc đi vào trong để bắt dơi, bắt chuột nhưng không bao giờ dám đi hết cả đường hầm vì càng đi sâu vào trong càng khó thở... Gần đây, có một số doanh nghiệp trên địa bàn thấy đường hầm độc đáo, định xin ban quản lý di tích cho trùng tu và tôn tạo lại để kinh doanh du lịch nhưng các cụ cao niên trong làng Cổ Mễ chưa đồng ý vì các cụ sợ bị mất những dấu tích thời gian của đường hầm...”.
Đường hầm có từ bao giờ?
Cho đến nay, sự ra đời của đường hầm này vẫn là một “ẩn số” và xung quanh nó tồn tại rất nhiều giai thoại khác nhau. 
Chui qua miệng hầm, phải bước qua khoảng 20 bậc thang cũng được xây bằng gạch đỏ, xi măng rất kiên cố thì mới tới được con đường bằng phẳng đi thẳng vào hầm.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thùy, vào thời cụ nội ông còn sống có kể lại rằng, dưới thời nhà Lý khi quân Tống sang xâm lược nước ta, vùng đất quanh sông Như Nguyệt có địa thế khá hiểm trở nên được xây dựng thành một tuyến phòng thủ vững chắc nhằm chống lại quân xâm lược. Và đường hầm này là đường hầm có từ thời bà Chúa Kho, được bà cho đào nhằm giúp quân lính vận chuyển lương thực, nhu yếu... theo đường thủy từ sông Như Nguyệt lên kho quân lương dự trữ trên núi được thuận lợi. Vừa tránh được sự phát hiện của quân Tống vừa tạo một lối đi bằng phẳng, không phải leo lên đồi cao.
Chính vì thế đường hầm mới có lối vào ngay sát sau đền bà Chúa (nguyên thủy đền bà Chúa được xây dựng trên nền kho chứa quân lương ngày xưa) và lối ra là phía sau chân núi, ngay sát sông Như Nguyệt. Sau này qua các triều đại phong kiến, đường hầm này vẫn được tiếp tục sử dụng để đánh lại các quân xâm lược phương Bắc mà dấu tích còn lại của thời đại đó là những phiến đá to, những bức tường bằng cát bi kéo dài, phân nửa chìm dưới lòng đất (xây bằng cát bi và một loại keo dính hỗn hợp) hiện vẫn còn trên đồi.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Mão, 68 tuổi - thành viên Ban quản lí di tích đền Bà Chúa Kho và một số người dân sở tại thì thực chất đây là một đường hầm xuyên núi có từ thời Pháp - Nhật giao tranh. Vào năm 1945, các ông chủ và công nhân nhà máy giấy Đáp Cầu đã sử dụng nơi này làm nơi trú ẩn và làm việc mỗi khi quân Nhật đánh xuống vùng này.
“Trước đây chúng tôi gọi nó là Tulen (tên thời Pháp) nhưng thực chất nó là một đường hầm xuyên qua núi có từ thời Pháp. Trong lòng đường hầm có một chỗ phình ra, hình vuông vốn là phòng làm việc của giám đốc sở máy giấy Đáp Cầu. Còn những khu xung quanh chỗ nào rộng hơn bình thường là chỗ bộ máy hành chính và công nhân của nhà máy giấy chuyển vào đó làm việc cho an toàn. Từ lúc tôi còn đi chăn trâu, chăn bò ra đây đã nhìn thấy hầm này mà năm nay tôi đã 68 tuổi nghĩa là nó cũng phải được xây dựng từ những năm 1942 hay 1944 gì đó...”.
Theo ông Nguyễn Đăng Trúc - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh thì: “Mặc dù xung quanh nguồn gốc sự ra đời của đường hầm này hiện tồn tại rất nhiều giả thiết khác nhau nhưng chúng tôi vẫn thiên về giả thiết cho rằng đường hầm được xây dựng dưới thời Pháp thuộc. Hiện chúng tôi vẫn đang cho tiến hành các thủ tục để tìm hiểu kỹ hơn về con đường hầm này cũng như có các phương án đề xuất với bên quân đội trùng tu và bảo quản...”.
Trong những năm đế quốc Mỹ đánh bom phá hoại miền Bắc, dân làng thôn Cổ Mễ sơ tán ra trú ẩn ở đường hầm này để tránh bom đạn. Trên nóc hầm được sử dụng làm trận địa pháo cao xạ của một số đơn vị pháo của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Một điều mà từ người già cho đến người trung niên ở đây đều nhắc tới và mặc nhiên thừa nhận như một sự bí ẩn khó hiểu: Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ rất ác liệt, bom đạn thả nhiều vô kể nhưng không có bất kỳ một quả bom nào “dám bén mảng” tới chỗ đất này. Những đoàn pháo cao xạ khi chiến đấu ở đây cũng không hề bị một quả bom nào dội trúng, nhưng khi vừa bước qua quả đồi bên kia thì liền bị bom Mỹ dội ngay.  
Hà Tùng Long
Bài đã đăng báo Gia đình & Xã hội cuối tuần, số ra ngày 15/4/2009

Số phận của hai quả chuông đồng cổ nhất Việt Nam

Chuông đồng là những di vật cổ có giá trị rất lớn về mặt lịch sử, văn hóa... của mỗi dân tộc trong từng thời đại. Dựa vào công nghệ đúc đồng và những họa tiết hoa văn trang trí trên chuông mà các nhà nghiên cứu có thể biết được sự phát triển của xã hội, trình độ văn hóa của con người vào thời điểm lịch sử cụ thể đó.
Chỉ tiếc, do chiến tranh loạn lạc những quả chuông có niên đại sớm ở Việt Nam hiện còn lại rất ít. Tính đến thời điểm này, chỉ mới phát hiện được hai quả chuông được xem là có niên đại sớm nhất của Việt Nam là chuông Thanh Mai và chuông Nhật Tảo.
 

Quả chuông đồng có niên đại từ thời Ngô Quyền được tìm thấy ở thôn Nhật Tảo, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội.
Báu vật nằm buồng trong kho cũ
Theo các chuyên gia về cổ vật và sử học thì quả chuông đồng có niên đại sớm nhất Việt Nam hiện nay là quả chuông đồng được nhân dân thôn My Dương, xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Tây (cũ) tìm thấy năm 1986 trong một lần đào mương khai thông hệ thống thủy lợi của thôn. Quả chuông này đã được tìm thấy ở độ sâu 3,5m.
Toàn thân chuông cao 43cm, nặng 36kg. Riêng quai chuông cao tới 7cm, đường kính 35cm và miệng chuông có đường kính 39cm. Quai chuông đúc nổi đôi rồng đấu lưng vào nhau, uốn cong một cách khéo léo tạo thành núm treo chuông. Đỉnh chuông được tạo theo hình chỏm cầu, đúc nổi bằng nhiều cánh sen kép và nhũ đinh. Thân chuông hình trụ, trên to dưới nhỏ, ở mặt thân chuông có các đường gân nổi ngang dọc, chia thân chuông thành 4 ô trên và 4 ô dưới. Hai núm dùng để gõ chuông có hình tròn lồng trong nền cánh sen hết sức nghệ thuật, thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc thời bấy giờ.
Đặc biệt là trên phần thân chuông có khắc một bài minh văn  bằng chữ Hán, khoảng 1.500 chữ, toàn bộ minh văn được khắc kín trong 8 ô. Nội dung bài minh văn như sau: Hồi tâm dựng phúc/Công tạo minh chung/Thiên viễn ứng nghiệm/ Địa ngục văn thanh/ Tam đồ cụ khổ/ Bát nạn tiêu khuynh/ Kim thân giả hữu/ Truyền danh vạn tuế/ Chiêm lâm Phật pháp/ Âm hưởng xuất không/ Tẩu công nhất đảo/ Bất diệt vô sinh. Đại ý của bài minh này là: Chiếc chuông này được nhiều người công đức đúc nên. Danh sách những người công đức có ghi trên thân chuông. Những người này đều là đệ tử của nhà Phật, có chung tâm đức tạo nên chiếc chuông này, họ mong muốn rằng: Khi tiếng chuông vang lên thì được trời, đất, thần, Phật chứng giám cho chúng sinh và tiêu trừ hết khổ nạn. Phật pháp được lưu danh muôn thuở (bản dịch của viện Hán Nôm).
Dựa vào bài minh và danh sách những người có công đức để đúc chuông được ghi trên thân chuông, các nhà Hán Nôm và khảo cổ học đã xác định quả chuông do hội Tuỳ Hỷ của người Hoa và người Việt đúc vào năm Mậu Dần, niên hiệu Trinh Nguyên thứ 14 (năm 798). Quả chuông được đánh giá có niên đại cổ nhất Việt Nam từ trước tới nay và đã thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật đúc đồng dưới thời bấy giờ. Cũng thông qua bài minh, các nhà nghiên cứu cho rằng, thời kỳ xuất hiện quả chuông là thời kỳ Phật giáo khá phát thịnh trong cộng đồng người Việt và người Hoa trên đất nước Việt Nam. Chỉ tiếc là chuông không ghi rõ được đúc ở chùa nào.
 

Chuông Thanh Mai hiện đang được lưu giữ tại kho bảo quản của Bảo tàng tổng hợp Hà Nội.
Chuông cổ long đong mãi xóm nghèo
Đây là quả chuông được tìm thấy ở văn chỉ thôn Nhật Tảo, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Quả chuông này khá độc đáo với dáng chuông thon thả, nhỏ nhắn (cao 31cm, đường kính miệng 18,7cm, cân nặng 5,4kg). Đỉnh chuông phẳng, miệng hơi loe vát. Giống chuông Thanh Mai, trên thân quả chuông này có nhiều đường chỉ đúc nổi và nám tròn nổi. Giữa thân chuông có năm đường chỉ ngang chia thân chuông làm hai phần. Dọc thân chuông, mỗi bên có năm đường chỉ khác chia tiếp thân chuông thành 8 ô (4 ô dưới để trơn, 4 ô trên khắc đầy chữ Hán). Giao điểm giữa các đường chỉ nổi có 4 núm tròn để làm nơi gõ chuông. Xung quanh núm tròn có trang trí 12 cánh hoa tròn nổi. Quai chuông tạo hình động vật uốn cong, tuy nhiên hai con vật này rất khó nhận dạng. Hai con quay đầu về hai phía, phần thân nối liền nhau thành một khối. Ðầu con vật to khỏe, hai mắt lớn hình thoi, hai sừng cong có các khía ngang, bờm đơn giản, thân mập có phủ vảy, chân thon cao. Về mặt bố cục, hình tượng này gần gũi với bố cục trang trí quai chuông Thanh Mai và trang trí trán bia thời Tùy ở Thanh Hóa.
Minh văn trên chuông ghi rõ niên đại và nơi đúc là: Giao Chỉ huyện, Hạ Từ Liêm thôn, thời Càn Hòa lục niên Mậu Thân tuế, tứ nguyệt, nhị thập cửu nhật (thôn Hạ Từ Liêm, huyện Giao Chỉ, ngày 29/4 năm Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ sáu). Tìm hiểu trong sử liệu các triều đại Việt Nam thì không có niên hiệu Càn Hòa mà niên hiệu Càn Hòa là thuộc về thời vua nước Nam Hán Lưu Thạnh, đóng đô ở Quảng Châu trong thời Ngũ đại thập quốc ở Trung Quốc. Càn Hòa thứ sáu là năm 948. Chính nước này, 10 năm trước đó (938) đã phái quân sang Việt Nam và bị đại bại trên sông Bạch Ðằng.
Giải thích việc có niên hiệu Nam Hán ghi trên thân chuông của nước Việt Nam vào lúc Việt Nam đã độc lập, GS. Tống Trung Tín – Viện trưởng viện khảo cổ học cho rằng: “Lật lại các trang sử cũ của Việt Nam thì thấy tuy Ngô Quyền đã xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (Ðông Anh, Hà Nội) nhưng vẫn chưa đặt niên hiệu. Sau khi Ngô Quyền mất năm 944, cho đến khi triều Ngô chấm dứt năm 965, các đời Dương Tam Kha, Ngô Tấn Nam Vương, Ngô Thiên Sách Vương cũng đều không có niên hiệu. Chính vì vậy, minh văn trên chuông vẫn sử dụng niên hiệu nước ngoài. Ðó cũng chính là sự thật lịch sử Việt Nam thời đó đang ở buổi đầu giành và củng cố nền độc lập...”.
 

Bài minh văn được khắc bằng chữ Hán trên thân chuông Thanh Mai.
Ngoài ra, trên minh văn còn ghi lại một cách ngắn gọn việc các tín đồ Ðạo giáo ở địa phương góp tiền vẽ tranh Thái Thượng Tam Tôn, làm sáu chiếc phướn báu, mua quả chuông báu, các nghi lễ (trai khánh) và chức danh (cao công) của Ðạo giáo để mong báo đáp tứ ân và hy vọng được trường cửu. Theo GS. Tống Trung Tín: “Với bài minh văn và sự hiện diện của quả chuông đã cho thấy sự phát triển của Ðạo Giáo ở thời Ngô Quyền khá mạnh. Ðiều đó giải thích vì sao trong các thời kỳ Ðinh, Lê, Lý, Trần, tuy đạo Phật là quốc giáo, nhưng vai trò của Ðạo giáo vẫn có ảnh hưởng khá mạnh trong đời sống tinh thần của người dân Ðại Việt với nhiều cung, quán khá lộng lẫy ở kinh đô Thăng Long... Đặc biệt, dựa vào minh văn người ta có thể thấy được địa danh huyện Giao Chỉ vốn có từ thời Ðường nhưng đến thời Ngô tên này vẫn được giữ nguyên”. 
Những con vật trên thân chuông này tuy rất khó nhận dạng nhưng theo các nhà lịch sử thì chúng chính là một dạng rồng tiền thân của rồng thời Lý, Trần, Lê. Như vậy tiếp theo chuông Thanh Mai, quả chuông thời Ngô Quyền ở Hà Nội là quả chuông có niên đại sớm thứ hai, cung cấp nhiều tư liệu quý giá về lịch sử và văn hóa thời Ngô Quyền. Và dù xuất hiện từ thế kỷ thứ X, trải qua 1.049 năm nhưng quả chuông này vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn.
Hiện quả chuông Thanh Mai đang được lưu giữ tại kho bảo quản của Bảo tàng tổng hợp Hà Tây (cũ). Theo giáo sư khảo cổ học Nguyễn Lân Cường thì: “Quả chuông là một trong những bảo vật quốc gia đặc biệt quý hiếm, vì hiện nay đây là chiếc chuông có niên đại sớm nhất được phát hiện ở Việt Nam.
 
Sắp tới đây khi bảo tàng Hà Nội hoàn thành vào năm 2010, đây sẽ là một hiện vật có giá trị, góp phần tạo diện mạo của một thời kỳ lịch sử xa xưa”. Còn chiếc chuông Nhật Tảo được địa phương lưu giữ rất cẩn thận. Tuy nhiên, theo các nhà sử học thì vị trí xứng đáng của những quả chuông này phải là ở các bảo tàng quốc gia của trung ương hoặc Hà Nội mới phát huy được giá trị và tránh khỏi bị mất mát. Quả chuông cũng là một chứng tích lịch sử duy nhất, cực kỳ hiếm hoi về thời đại Ngô Quyền mà cho đến nay Việt Nam chúng ta có được.
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội cuối tuần, số ra ngày 10/4/2009

Người khai sinh tranh rễ cây Việt

Từ những gốc rễ xù xì, ải mục tưởng chừng như bỏ đi hoặc chỉ có thể dùng làm củi đun nấu, một người nông dân đã nảy sinh ý tưởng biến nó thành những bức tranh gỗ hết sức sinh động.
Những bức tranh ấy không chỉ có con người, có cỏ cây hoa lá hay phản ánh rất chi tiết về lịch sử, văn hóa của một vùng đất, một nhân vật lịch sử… mà còn đạt được những giá trị mỹ thuật.
 
Người nông dân ấy là Nguyễn Văn Viện (sinh năm 1957) thôn Khúc Toại, xã Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh. Ông là người đầu tiên ở Việt Nam khai sinh ra dòng tranh gỗ làm từ gốc rễ cây, góp phần làm phong phú thêm dòng tranh dân gian của Việt Nam. Với những đóng góp của mình, ông đã được phong tặng là nghệ nhân dân gian.
 
Bức tranh gỗ về cảnh Phố Hiến xưa - một trong những bức tranh được đánh giá là đạt đến đỉnh cao.
Tạo ra dòng tranh mới chỉ vì tiếc gỗ thừa
Thôn Khúc Toại thuộc xã Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh vốn có truyền thống làm đồ mộc từ rất lâu đời. Theo các bậc cao niên trong làng thì xưa kia vùng này là nơi tập kết, giao lưu buôn bán gỗ từ vùng thượng nguồn như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc... xuôi về. Nhìn những bộ gốc rễ to lớn, xù xì trôi lững lờ theo các bè gỗ từ thượng nguồn chảy về trên dòng Ngũ Huyện Khê mà không ai đoái hoài, cậu bé Viện thấy tiếc nuối cho bao công sức của “thiên nhiên” đã tạo ra chúng. Trong số những bộ gốc rễ ấy, có không ít là của những cây gỗ quý mà phải mất hàng chục năm mới tạo nên.
 
Vốn có chút năng khiếu, lại khéo tay hay làm nên lúc đầu cậu bé Viện nhặt những bộ gốc rễ đó về rồi một mình loay hoay cưa, đục, gọt, đẽo làm ra nào xe ô tô, nào búp bê cho các em chơi. Làm bạn với những gốc cây, rễ cây được một thời gian dài, đến một ngày, cậu chợt nhận ra gỗ từ rễ, gốc cây có màu sắc rất sinh động, lại có nhiều vân, độ ánh rất cao, có mùi thơm... mà loại gỗ từ thân cây khó có thể có được.
Sau bao ngày trăn trở, nghĩ suy, quyết “không thể dùng những loại gỗ này để làm những thứ đồ chơi bình thường ấy được”, chàng thanh niên Nguyễn Văn Viện đã nghĩ ra một ý tưởng táo bạo là làm tranh từ gốc rễ của cây. Nói là làm, bắt đầu từ năm 1986 anh Viện bắt đầu mày mò làm tranh gỗ. Những bức tranh đầu tiên do chính anh làm nên là những bức tranh nho nhỏ về phong cảnh thôn quê, trường lớp, về hội Lim... với những đường nét, hình hài rất ngộ nghĩnh. Những bức tranh ấy được bố mẹ nâng niu, đặc cách cho anh treo ở phòng khách của nhà. Khách khứa bố mẹ đến chơi, ngắm nghía những bức tranh ấy đã không ngớt lời khen ngợi.
Những lời khen ngợi của người lớn là nguồn động viên khiến anh Viện không quản khó khăn, mày mò, sáng tạo ra nhiều bức tranh mới lạ, độc đáo hơn. Những bức tranh ngày cứ nhiều thêm và mặc dù nhà đông con, rất nghèo nhưng anh Viện nhất quyết không chịu bán tranh mà chỉ tặng cho những ai thật sự yêu thích nó.
 
Anh Nguyễn Văn Viện bên những tác phẩm của mình.
Anh Viện còn nhớ: “Thời đó, tôi rất thích làm tranh về chân dung Bác Hồ nhưng làm tranh chân dung cực khó. Tôi lại đang mới bắt đầu tập tành làm tranh nên càng khó hơn. Nhiều đêm liền, tôi ngồi thức trắng cả đêm để vẽ cho được chân dung của Bác. Đến khi vẽ xong thì phải mất hàng tháng trời lặn lội khắp nơi để tìm được nguồn gỗ có màu sắc gần giống với làn da của Bác để làm. Phải gần hai tháng trời, tôi mới hoàn thành được bức tranh về chân dung Bác Hồ khổ 40x50cm. Tôi đã mừng rơi nước mắt khi ước mơ làm được một bức tranh về Bác đã thực hiện được... Bức tranh này sau khi làm xong, có người đến nhà chơi thấy đẹp liền đòi mua nhưng tôi không bán. Họ trả với giá rất cao, số tiền đó tương đương với một cái xe máy chứ không phải ít”.
Công phu tranh rễ cây
Dù đã làm được rất nhiều bức tranh gỗ, được rất nhiều người khen ngợi nhưng chính anh Viện vẫn chưa bằng lòng với những bức tranh đó. Mỗi lần ngắm nghía lại bức tranh do chính mình làm nên, anh vẫn thấy thiếu thiếu một điều gì đó. Những bức phác thảo đã cố gắng vẽ tỉ mỉ nhất, khuôn hình cũng đã cố gọt dũa theo đúng bản vẽ nhất, cách bố cục và trang trí tranh cũng được cẩn thận sắp đặt, vậy mà sao nhìn vào bức tranh vẫn thấy có một cái gì đó rất ngô nghê, chưa mang nhiều giá trị nghệ thuật. “Tôi đã trăn trở rất nhiều về điều đó. Tôi biết với con mắt của người bình thường thì bức tranh đó đẹp nhưng với tôi thì bức tranh đó vẫn chưa có tính thẩm mĩ lắm... bởi thế tôi đã quyết tâm phải đi học để có nhiều kiến thức hơn...”.
 
Năm 1977, Nguyễn Văn Viện trúng tuyển vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Yết Kiêu, nhưng cũng chỉ một năm sau, kinh tế gia đình sa sút, anh đành phải về quê phụ giúp bố mẹ xoay xở tiền gạo nuôi bảy đứa em ăn học. Ban ngày anh đi làm, ban đêm anh lại tự nghiên cứu giáo trình, tự thử nghiệm rồi rút ra kinh nghiệm. Sau nhiều lần như thế, kỹ nghệ làm tranh gỗ của anh ngày càng tiến bộ hẳn lên. Cho đến nay, anh không chỉ trở thành một “lão làng” trong việc làm tranh gỗ mà còn truyền nghề lại cho anh em, con cháu trong nhà.
 
Bức tranh gỗ mang tên "Tướng sĩ một lòng" được thể hiện sinh động bằng các loại gỗ quý.
Theo anh, để làm được tranh gỗ đòi hỏi người chơi phải có gu thẩm mĩ cao và có tính tỉ mẩn. Để làm được một bức tranh thật sự có giá trị nghệ thuật, trước hết phải nghiên cứu các tài liệu văn hóa, lịch sử liên quan đến chủ đề mình muốn thể hiện. Tiếp theo, phải tự mình trình bày vốn hiểu biết đó lên trên giấy thành một bức tranh phác thảo. Sau đó, phải cất công đi tìm những bộ gốc rễ của các loại cây gỗ có màu sắc tương ứng để tạo hình rồi mới lắp ghép.
Một bức tranh gỗ đạt tính mỹ thuật cao là phải giữ được màu sắc tự nhiên của gỗ, bố cục phải phù hợp với chủ đề, kỹ thuật ghép phải tỉ mỉ, cẩn thận. Trước đây, đích thân anh Viện phải lên tận các vùng rừng núi Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai... để thuê người dân tộc vào tận rừng sâu đào các gốc rễ của các loại cây gỗ cổ thụ, gỗ quý mà người khác đã khai thác phần thân. Sau đó, họ sẽ cưa xẻ tại chỗ và mang gỗ miếng về nhà để làm tranh, nhưng nay thì con trai lớn của anh đã thay cha làm được việc đó. Thường thì trong một bức tranh gỗ có rất nhiều màu sắc và mỗi màu sắc lại phải lấy từ một loại gỗ khác nhau. Nếu màu vàng lấy từ gỗ mít, gỗ vàng tâm; màu đen là gỗ mun, lim thì màu đỏ là gỗ trắc, màu trắng là gỗ xoan, bạch đàn, thông... chính vì được làm từ nhiều loại gỗ quý, màu sắc tự nhiên nên bức tranh có độ bền rất cao, màu sắc không bao giờ bị phai.
Từ chỗ chỉ làm tranh như một thú chơi để thỏa lòng đam mê nghệ thuật, dần dà nhiều người thấy đẹp lại đến nhờ anh làm hộ một vài bức về treo trong nhà. Cái biệt danh “Viện tranh gỗ” cũng từ đó lan truyền khắp gần xa.
 
Những người thợ đang tỉ mẩn cắt gỗ thành từng hình nhỏ để ghép tranh.
 
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội cuối tuần, số ra ngày 2/4/2009

Phát lộ tháp cổ dưới nền chùa Phật Tích

Trong khi đào móng xây dựng lại tòa Tam bảo thuộc Dự án trùng tu, tôn tạo chùa Phật Tích (Tiên Du, Bắc Ninh), đội thi công thuộc Trung tâm tu bổ di tích Trung ương đã phát hiện nền móng của một tòa tháp cổ hình vuông có nhiều đặc điểm giống với ngôi bảo tháp cao đến 42m nguy nga tráng lệ được xây dựng từ thời Lý, mà sử sách đã ghi lại.
Chùa Phật Tích (hiệu Vạn Phúc tự) nằm dưới chân núi Lạn Kha thuộc huyện Tiên Du,tỉnh Bắc Ninh là một trong những ngôi chùa đầu tiên ở nước ta có dấu chân Phật giáo Ấn Độ truyền vào từ khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên. Nơi đây từng là một trong những trung tâm của Kinh đô Phật giáo Luy Lâu, với những công trình kiến trúc nguy nga, đồ sộ. Trong đó, nổi tiếng nhất là tòa bảo tháp được xây dựng từ thời Lý, kết tinh của nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật đương thời được nhiều sử liệu ghi lại.
 
Tòa bảo tháp này từng gắn liền với truyền thuyết về chiều cao “chọc trời” mà đứng ở kinh thành Thăng Long vẫn có thể nhìn thấy. Qua thời gian, ngôi bảo tháp này bị đổ rồi bị vùi lấp bởi các công trình xây dựng của các triều đại sau nhà Lý.
 
Toàn cảnh móng tháp chùa Phật Tích được phát lộ. (Ảnh: Phạm Văn Triệu)
Kỹ thuật xây móng có một không hai
Theo báo cáo của đội khai quật Viện Khảo cổ học thì tháp cổ này tồn tại giữa ba tầng văn hóa, tương ứng với ba lớp đất có niên đại lịch sử khác nhau. Ở tầng văn hóa thứ nhất có đất sét màu vàng, lẫn nhiều mảnh ngói có niên đại thế kỷ XVII. Đây có thể là lớp đất được hình thành vào thời Lê hoặc là lớp san lấp khi ngôi chùa thời Lê bị phá huỷ.
Ở tầng văn hóa thứ hai tồn tại ở dạng đất sét thuần túy, không chứa di vật, phát lộ thành hai khoảng ở hai bên phía đông và tây của đường lên chùa, dày trung bình 60cm. Ở đáy của lớp này chứa các vật liệu kiến trúc gạch, ngói của thời Trần và thời Lê. Theo suy đoán, khi chùa thời Lý - Trần bị xuống cấp, người ta đã tiến hành san gạt, sau đó xây dựng ngôi chùa mới thời Lê trên nền móng cũ.
Tầng văn hoá thứ ba là lớp gia cố móng nền của chân tháp. Kỹ thuật gia cố hết sức kiên cố, cứ một lớp sỏi dày từ 3cm -   5cm là đến một lớp đất sét đồi dày trung bình 5cm. Kiểu gia cố này giống với cách gia cố các móng trụ kiến trúc thời Lý tìm được ở Hoàng thành Thăng Long.
 
Khi phát lộ nền tháp, các đội đào móng đã phát hiện ra nền móng có hình vuông trong lòng rỗng. Phần đáy của móng tháp cao 8,70m so với bờ giếng cổ thời Lý ở dưới cổng chùa. Móng tháp có hai tầng xây giật cấp, chồng lên nhau. Gạch xây tháp đều được xếp theo hàng ngang, phần đầu gạch đâm ra ngoài, mỗi hàng trung bình xếp 6 viên gạch với nhiều kích thước khác nhau. Chất kết dính để xây dựng tháp hoàn toàn là đất sét nhuyễn, không hề có bất kỳ một chút vôi vữa hay chất kết dính nào khác. Các mạch vữa mỏng đến nỗi nhìn bề ngoài chẳng khác gì các viên gạch được xếp chồng lên nhau.
Ông Phạm Văn Triệu – thành viên đoàn khảo cổ học chùa Phật Tích thuộc Viện Khảo cổ học nhận định: “Riêng kỹ thuật xây móng tháp thì trong tất cả các công trình khảo cổ ở Việt Nam chỉ duy nhất móng tháp chùa Phật Tích là chưa bao giờ thấy, đây là một hiện tượng hết sức độc đáo... Móng tháp được xây dựng trên sườn đồi và nằm sâu trong lòng đất 3,2m, xung quanh được gia cố, đầm chặt bằng sỏi và đất sét đồi”.
 
Sự hiện diện dấu tích thời Lý trên nền chùa Phật Tích xưa cho thấy cấu trúc của chùa Phật Tích thời xưa rất khác với các ngôi chùa Phật Tích được xây dựng lại sau thời Lý, đó là tháp ở sau chùa. Đây là một kiểu bình đồ rất riêng của Phật Tích. Cùng với các kỹ thuật xây dựng không có vôi vữa, kỹ thuật xây móng nhiều lớp (sỏi xen kẽ đất đồi), kỹ thuật góc cong có ở Hoàng thành Thăng Long, có thể khẳng định đây là ngôi tháp được xây dựng ít nhất là vào thế kỷ XI.
 
Chất kết dính là đất sét nhuyễn nên tháp trông như một khối liền. (Ảnh: Phạm Văn Triệu)
Trong cuốn Nghệ thuật Đông Dương của kiến trúc sư nổi tiếng người Pháp L. Bezacier – người đã tiến hành trùng tu lại chùa Phật Tích trước năm 1945, cũng đã từng dành riêng một chương để nói về chùa Phật Tích xưa. Trong đó, ông miêu tả cuộc khảo cổ thám sát ngôi tháp đo được chiều ngang phần móng là 8,5m. Căn cứ vào đó, Bezacier cho rằng ngọn tháp cao tới 42m. Dựa vào các nguồn tài liệu và kết quả giám định tại tháp với việc móng tháp được xây dựng rất kiên cố, có qui mô lớn, thuộc loại tháp nhiều tầng, điều đó chứng tỏ đây là cây tháp khá quy mô, xứng đáng với truyền tụng dân gian rằng “đứng ở kinh đô Thăng Long vẫn thấy tháp”.
Gợi mở xuất xứ nguồn gốc gạch xây Hoàng thành Thăng Long
Số gạch được tìm thấy trong móng tháp có số lượng khá lớn, đều được nung lõi cứng như sành, trên mỗi viên đều có đề: “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (Vua thứ ba đời Lý, năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 xây dựng) hoặc “Chương Thánh Gia Khánh”. Theo sử sách, Long Thụy Thái Bình là niên hiệu của vua Lý Thánh Tông từ năm 1054 - 1058. Đến năm 1059, vua đổi sang niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh cho đến năm 1065. Long Thụy Thái Bình năm thứ tư tức là năm 1057... Những viên gạch trên rất giống những viên gạch của tầng văn hóa thời Lý phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long.
 
Những trang trí thời Lý trên đài sen bệ tượng khảo quật được.
 
Ngoài ra, trong quá trình khai quật móng tháp đội khai quật còn phát hiện các lá đề chạm rồng, tượng rồng 5 móng, đều là những tuyệt tác điêu khắc hiếm có. Trong đó, 2 phù điêu lá đề bằng đá nặng mỗi phiến 40kg có chạm trổ hình rồng chầu (kích cỡ khoảng 40x40cm) nguyên vẹn 100% và một chiếc đầu rồng đá cực kỳ tinh xảo (khoảng 30x50cm).
 
Đặc biệt hơn, khi đào xung quanh chân tháp những người thợ còn phát hiện ra 1/4 đài sen bệ tượng. Theo sử liệu thì đó chính là phần úp ngược của đài sen bệ tượng A Di Đà trước đây. Đây là một phát hiện hết sức quý giá cho việc khôi phục lại dáng vẻ ban đầu của bệ tượng gồm 5 phần: Đế bát giác, đài sen úp ngược, đầu con sấu đá, đài sen hướng xuôi. Cuối cùng là bức tượng đặt trên tòa sen. Đa phần hiện vật của ngôi tháp đều được tìm thấy ở hướng đông bắc, đúng với phỏng đoán của các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng tháp bị đổ về phía này.
 
Bên cạnh đó, dựa vào những hình dáng, kỹ thuật nung, các hình chạm khắc trên các mảnh gốm tìm thấy, đại đức Thích Đức Thiện (trụ trì chùa Phật Tích hiện nay) còn phỏng đoán đây có thể là một trung tâm gốm sản xuất gạch để phục vụ việc xây tháp và xây Hoàng Thành... ở kinh đô Thăng Long xưa.
 
Các hiện vật này đang được đại đức Thích Đức Thiện cất giữ, bảo quản rất cẩn thận với tâm nguyện: “Sau khi hoàn thành tất cả các công trình, nhà chùa sẽ mở một nhà trưng bày hiện vật đã được tìm thấy để cho chư khách thập phương mỗi lần đến chùa có cơ hội được chiêm bái và tự hào. Đó là báu vật của ông cha còn sót lại mà không phải thời đại nào cũng có cơ duyên tìm thấy...”.
 
Đầu chim thần Karari - dấu tích của Phật giáo Ấn Độ được tìm thấy trong khuôn viên tháp chùa.
Nền móng tòa bảo tháp có hình vuông nằm ở phía trước pho tượng Phật A Di Đà, cách hàng thú đá phía trước là 8m và cách tháp đá Linh Quang 21m. Kích thước chân tháp 9,1m x 9,1m, tường tháp mỗi cạnh dày trung bình 2,4m đến 2,43m, lòng tháp rộng 4,18 đến 4,20m, diện tích 82,81 m2, chân tháp được xây bằng gạch thời Lý, chắc chắn, đẹp, phản ánh đỉnh cao của nghệ thuật thời Lý.
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội Cuối tuần, số ra ngày 26/3/2009

Trục vớt tàu tại Hưng Yên: Tàu cổ hay tàu... khổ?

Vào tháng 12/2008, trong một lần lặn xuống quãng sông đoạn bến đò Vạn Điểm (Khoái Châu, Hưng Yên) để mò tìm sắt vụn, gỗ tận dụng thì anh Hà Công Chuôm quê ở Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình phát hiện được một con tàu gỗ.
Bỏ ra khoảng 230 triệu đồng thuê các phương tiện, máy móc ròng rã trong 27 ngày đêm không ngơi nghỉ để trục vớt tàu. Nhưng  trục vớt lên đồ cổ chẳng thấy đâu lại bị chính quyền thu giữ mất tàu.
 
Chi khoảng 230 triệu  đồng được một đống củi và củ nâu!

Ông Hà Công Ao, 53 tuổi, bố của Hà Công Chuôm - người tìm ra con tàu này bên dàn máy của con tàu.
 
Vào tháng 12/2008, khi lặn xuống ở độ sâu 14m, anh Chuôm sờ thấy một khúc gỗ lớn nhưng vì thời tiết quá lạnh nên mấy cha con đánh dấu chờ thời điểm thích hợp sẽ trở lại trục vớt. Đến 15/1 âm lịch, cả đoàn thuyền gồm 5 thuyền viên (trong đó 3 thành viên ở Thái Bình và 2 ở Hưng Yên) quay trở lại tiến hành hút cát, bùn để vớt gỗ lên thì mới phát hiện ra đó là một con tàu gỗ khá lớn.
 
“Với kinh nghiệm 12 năm trong nghề trục vớt, tôi ước chừng chỉ với 3 đoàn cẩu cùng các thiết bị thổi và hút cát thì chỉ mất một tuần là có thể đưa được con tàu lên bờ. Nhưng vì trong khoang tàu chứa tới 4 đến 5 khối củ nâu, khoảng 8 khối củi, tàu lại bị âm (chìm sâu) dưới lòng đất đến khoảng 3m nên đất gan gà tràn vào lòng tàu rất nhiều. Mọi chuyện đã không như tôi dự đoán ban đầu” – anh Chuôm cho biết.

Anh Chuôm vừa phải thuê thêm 9 thợ lặn xuống vớt củi trong khoang, vừa phải lên Hà Nội thuê đoàn cẩu về hút thổi đất cát rõng rã cả ngày lẫn đêm trong 27 ngày mới vớt được con tàu gỗ này lên. Số tiền chi phí cho việc vớt tàu lên tới 230 triệu đồng, khiến cho thuyền viên ai cũng lo ngại vì không biết giá trị con tàu có được xấp xỉ số tiền đó không.
 
Tàu khi vớt lên đã bị gẫy làm đôi. Ảnh: H.T.L

Con tàu gỗ này khi vớt lên thì đã bị gẫy đôi nhưng hình dáng, thân tàu và máy móc vẫn chưa bị thay đổi nhiều. Đối với bố con anh Chuôm, chưa có con tàu nào, việc trục vớt lại khó khăn đến thế. Bởi trước đây, cũng trên quãng sông này, đoàn thuyền đã vớt được những 3 con thuyền gỗ khác nhưng kích thước nhỏ hơn, lại không bị âm sâu như con tàu này nên không mất nhiều công sức, tiền của để vớt.

Khi phát hiện ra con tàu ở dưới lòng sông thì con tàu đã bị gẫy làm đôi nên khi vớt lên bờ phải vớt làm hai lần. Ước chừng, con tàu có chiều dài khoảng 30m, chiều ngang 4,5m, trọng tải khoảng 70-80 tấn. Loại gỗ để làm tàu này chủ yếu là gỗ chò, ngoài ra còn có thêm một ít gỗ táu, dổi. Các cửa mạn, mớn nước... trên tàu đều bọc bằng đồng lá. Toàn bộ hệ thống máy móc dường như vẫn còn nguyên vẹn nên dễ thấy là tàu chạy bằng hơi nước và được đốt bằng củi.
 
Có thể vì thế mà khi phát hiện ra tàu, các thuyền viên đã phát hiện trong khoang tàu chứa tới 8 khối củi. Theo các thuyền viên trong đội trục vớt thì ngoài các thứ kể trên, trên tàu còn tìm thấy 3 chiếc đĩa sứ, một đã bị vỡ, một cái nữa thì một thợ lặn trong làng xin về,  cái còn lại đang được Bảo tàng Hưng Yên tạm giữ. Trên tàu hiện chỉ giữ một bức tượng Quan Thế Âm bằng sứ trắng, không có chữ và một cây cắm nến đã bị vỡ mất phần đầu.

Tàu vừa lên bờ đã bị giữ
 
Phần đuôi tàu và phần đầu tàu vẫn còn khá nguyên vẹn, có thể phục chế lại được.
 
Khi tiến hành trục vớt con tàu này chính anh Hà Công Chuôm đã là người lên báo cáo với Ban quản lý (BQL) bến đò Vạn Điểm thì BQL bến đò không có ý kiến gì. Thế nhưng, sau gần một tháng trời ròng rã vừa vớt được tàu lên, đưa vào phía bên kia bờ sông, thuộc địa phận xã Đại Tập (Khoái Châu, Hưng Yên) liền bị chính quyền địa phương lập biên bản tạm giữ vì lý do: tàu cổ?! Chân vịt, trục tàu, đồng lá... được tháo dỡ và lập tức đưa về bảo quản tại huyện Khoái Châu. Sau đó, chính quyền địa phương đã cho cắt cử người túc trực 24/24 giờ  vì sợ hiện vật bị tẩu tán.

Ông Nguyễn Văn Hanh – Chủ tịch UBND xã Đại Tập lý giải việc chính quyền địa phương tạm giữ con tàu và thu hồi hiện vật: “Vào ngày 8/3/2009, sau khi nghe báo cáo của chính quyền địa phương, đoàn của Phó chủ tịch tỉnh Hưng Yên, Bảo tàng Hưng Yên và một số cơ quan ban ngành đã xuống tận hiện trường kiểm tra, xem xét rồi ra một công văn khẩn giao cho UBND huyện Khoái Châu và xã Đại Tập thu giữ, quản lý và trông nom con tàu trong thời gian chờ Sở VH, TT & DL Hưng Yên cùng Bảo tàng tỉnh xin ý kiến chỉ đạo của Cục Di sản.
 
Hiện trên tàu giữ một bức tượng Quan Thế Âm bằng sứ trắng, không có chữ và một cây cắm nến đã bị vỡ mất phần đầu.
 
Để tránh tình trạng tẩu tán hoặc có những chuyện bất thường xảy ra, chúng tôi có cắt cử một số công an viên ngày đêm túc trực bên bến đò. Cách đây mấy hôm, người của bảo tàng và Sở VH, TT & DL Hưng Yên cũng về lập biên bản, thống kê lại toàn bộ hiện vật và rồi giao cho huyện Khoái Châu lưu giữ một chân vịt, trục tàu, đồng lá.
 
Cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa nhận được một văn bản chính thức nào về việc thôi giữ hay giao trả lại con tàu cho anh Hà Công Chuôm và các thuyền viên trong đội trục vớt”.

Có thể là tàu của lái buôn Trung Quốc?

Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Trung Hiếu - Giám đốc Bảo tàng Hưng Yên cho hay: đây là con tàu có động cơ chạy bằng hơi nước – một loại tàu được các thương nhân Trung Quốc hay sử dụng để chở hàng đi giao thương vào cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, ông Hiếu vẫn không dám khẳng định tàu này chở hàng tới Phố Hiến (Hưng Yên) vì cảng Phố Hiến vào thời cuối thế kỷ XIX đã bắt đầu suy tàn.
 
Nhưng vì từ cuối thế kỷ XIX, việc giao thương giữa các thuyền buôn Việt Nam với các thuyền buôn Trung Quốc vẫn tiếp diễn nên không loại trừ khả năng đây là một tàu buôn đi từ Trung Quốc sang. Còn qua lớp men trên tượng không khắc chữ, những chiếc bát nghi là bát cổ thì theo ông Hiếu, nhiều khả năng đây chỉ là bát cho thủy thủ dùng, vì số lượng quá ít nên không thể cho đó là cổ vật.

Đồng quan điểm với ông Hiếu, ông Đỗ Mạnh Hùng - Phó Giám đốc Sở VH, TT&DL Hưng Yên cũng nhận định đây là con tàu có niên đại vào khoảng thế kỷ XIX. Việc trong khoang tàu có chứa nhiều củ nâu – một loại củ khá phổ biến của nghề dệt nhuộm cho thấy nó có liên quan đến các mặt hàng tơ lụa, một trong những mặt hàng chính của thương cảng Phố Hiến ngày xưa.

Cũng theo ông Hùng, vì mức độ hư hại của tàu không nhiều nên vẫn có thể phục chế lại để trưng bày nên sau khi Bảo tàng Hưng Yên kết hợp với UBND tỉnh Hưng Yên đang làm các thủ tục gửi lên Cục Di sản Văn hóa - Bộ VH, TT&DL thì Cục Di sản Văn hóa đã ra quyết định thu hồi lại con tàu. Còn đối với những người đã có công trục vớt con tàu này lên, sẽ có những chính sách trả công thỏa đáng so với những gì họ đã bỏ ra.
 
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội Cuối tuần, số ra ngày 19/3/2009

“Bảo tàng” nông cụ giữa Hà Thành

Có một “lão gàn” không sinh ra ở quê, chưa một lần biết đến việc đồng áng ấy vậy mà trong suốt 22 năm cứ hễ có thời gian rảnh rỗi là lại bỏ vợ con, bỏ công việc lần mò về quê săn lùng nông cụ.
22 năm cần mẫn đi khắp mọi vùng quê của Đồng bằng Bắc Bộ, ông đã “săn” được hơn 300 hiện vật, là những vật dụng từng một thời gắn bó với đời sống thôn quê. “Lão gàn” ấy là Nguyễn Phú Sơn - nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị của Tổng Công ty sách Việt Nam.
 
Trên chiếc võng đay, ông Sơn để một cuốn Truyện Kiều và chiếc quạt mo để gợi nhắc cháu con nhớ về bà mẹ khi xưa vẫn thường ngâm Kiều ru con cháu.
Lão thành phố nặng nợ với thôn quê
Nhiều người không hiểu vì sao đường đường là chủ một doanh nghiệp lớn, cũng chẳng gốc gác gì ở nông thôn mà ông Sơn suốt ngày lọ mọ đến các vùng quê, bỏ bao công sức, tiền của mang về nhà toàn những thứ “bỏ đi”. Nhưng ông thì rất hiểu những việc mình làm. Chỉ có điều, ông không muốn giải thích mà để họ tự hiểu lấy “Không phải ai cũng có may mắn được bén duyên với thôn quê, với cái cuốc, cái cày như tôi, do đó tôi thấy mình phải nắm lấy. Chúng ta dù có sống ở đâu thì cũng nên nhớ một điều là phần lớn người Việt Nam đều có cái nôi từ đồng ruộng. Người ta chẳng thể quên được cái gốc của mình là con, là cháu của những bà mẹ nông dân. Bởi thế, tôi muốn lưu giữ những hiện vật này lại như một di sản cho các thế hệ mai sau nhớ đến cội nguồn...” – ông Sơn lý giải. 
 
 
Ông kể, vào đầu năm 1985 trong một lần về quê vợ ở Bắc Ninh ăn cỗ, ông thấy chủ nhà và một đám thanh niên hò nhau khiêng một cái cối xay gạo vứt ra ngoài bờ ao. Tiếc cho bao công sức của người thợ đã vất vả lắm mới làm ra được cái cối và tiếc cho những gì đã một thời gắn bó thân thiết với nhà nông đang bị vứt bỏ đi một cách phũ phàng, ông Sơn đánh liều xin lại chủ nhà mang về. Cũng từ đó, ý tưởng sưu tầm những vật dụng của người nông dân xưa dần hình thành rồi thấm vào ông như một mối duyên nợ. Hễ nghe ai mách ở đâu có món đồ lạ là ông lại khăn gói lên đường.
 
Đi nhiều nơi, gặp nhiều chỗ, cuối cùng ông đã tự rút ra cho mình một bài học là hễ cứ ở vùng quê nào có đám cưới là ông lại mò về, mon men trò chuyện với các cụ già trong mâm cỗ thì kiểu gì cũng tìm ra được một số nông cụ mà họ đã bỏ đi. Chính vì thế mà nhiều người nông dân ở Bắc Ninh, Hà Tây (cũ) cứ gọi yêu ông là “lão nhà quê thành phố”. Thân với người nông dân đến nỗi ở đâu trong làng có nông cụ bỏ đi là các ông bạn già ở quê lại gọi điện cho ông về “nhặt”.
 
Từ chân cầu thang bước lên đầu tiên là khu vực trưng bày các dụng cụ sản xuất như cày bừa, cuốc bàn, cào cỏ lúa, gầu sòng, gầu dây, liềm xén lúa.
Một lần về ăn cỗ tại một gia đình ở cách chùa Hương 7km; đang ngồi nói chuyện với ông bạn già mong muốn tìm được cái cày chìa vôi thì một ông cụ nghe thấy, lại vỗ vai ông rồi nói: “Nhà tôi có hai cái cày chìa vôi từ thời 1951 và một cái từ 1958, bác có lấy thì tôi biếu lại”. Mừng như bắt được vàng, giữa trưa  nắng chang chang, ông theo ngay ông cụ về nhà xin hai cái cày mang về. Lần khác, trong một đám cưới ở tỉnh Bắc Giang, ông lại sưu tầm được cái chạn bát bằng tre. Người con dâu của cụ già có cái chạn bát hỏi ông: “Bác đi sưu tầm đồ cổ à? Nhà tôi có nhiều thứ lắm”. Thế rồi, chị tất tả về tha lôi nào đèn dây, đèn chai, cày chìa vôi... đến tặng ông.
Giữ những thứ “bỏ đi” để cháu con biết nhớ về nguồn cội
“Tôi chẳng có ý kinh doanh hay buôn bán gì. Tôi sưu tầm các thứ này là để nhắn nhủ con cháu sau này nhớ về nguồn cội và có thể nhìn vào các nông cụ để hình dung ra cuộc sống của cha ông một thời. Ai có lòng muốn chiêm ngưỡng thì tôi sẵn sàng giới thiệu và mở cửa đón chào”.
Kể từ ngày có “bảo tàng”, ông Sơn ít đi về quê hơn vì hàng ngày ông còn phải kiêm một vai trò mới là “hướng dẫn viên bảo tàng”. Có nhìn thấy tận mắt cảnh ông say sưa nói về từng vật dụng trong “bảo tàng” của mình mới thấy hết lòng đam mê của ông.
 
“Bảo tàng” của ông tuy vẻn vẹn mấy chục mét vuông nhưng chứa đựng cả một thời kỳ, một nền văn hoá nông nghiệp của Việt Nam. Xung quanh “bảo tàng” được vây kín bởi các lớp phên cót đan bằng tre nứa. Mỗi khu vực đều được đặt tên và phân loại theo đặc tính của hiện vật.
 
Trong gian bếp có ba ông vua bếp (ba ông đầu rau), kiềng đun ba chân bằng sắt, chảo đồng, chạn bát bằng tre, mâm gỗ, chum tương, cối xay bột, lọ mắm cổ ngày xưa...
 
“Bảo tàng” của ông được chia làm ba khu vực. Từ chân cầu thang bước lên đầu tiên là khu vực trưng bày các dụng cụ sản xuất như cày, trong đó cổ nhất là các loại cày chìa vôi một lưỡi từ những năm 1951, cày chìa vôi lưỡi gang 1958. Cùng với đó là bừa, cuốc bàn, cào cỏ lúa, gầu sòng, gầu dây, liềm xén lúa... Tiếp đó là các thứ đồ phục vụ cho xay lúa, giã gạo: Cối, dần, sàng, nia và dụng cụ đánh bắt cá như: Giậm, nơm úp cá...
 
Ngoài ra, ông còn sưu tầm được 2 chiếc áo tơi (1 ở Hà Tĩnh, 1 ở làng Chuông, Hà Tây) để trọn bộ dụng cụ sản xuất của nhà nông. Chỉ vào hai chiếc áo tơi, ông nói: “Trong số các hiện vật ở đây thì có lẽ hai chiếc áo tơi này là kỳ công nhất. Một chiếc áo tơi, tôi phải lặn lội vào tận Hà Tĩnh, thuyết phục mãi mới được một cụ già 80 tuổi để lại cho. Dù cái áo tơi đã sờn lá nhưng vì nó có thấm bao giọt mồ hôi của bà cụ nên tôi rất quý nó”.
 
Bước vào phòng trong, một nửa bên ngoài phòng là khu vực trưng bày các dụng cụ gắn liền với đời sống sinh hoạt của người nông dân như: Bộ tràng kỷ bằng tre, giường tre, võng dây đay, các loại đèn đốt bằng dầu (đèn Hoa Kỳ, đèn chai, được làm bằng chai đựng thuốc, đèn dây). Trong gian bếp có ba ông vua bếp (ba ông đầu rau), kiềng đun ba chân bằng sắt, chảo đồng, chậu đồng, chạn bát bằng tre, mâm gỗ, chum tương, cối xay bột, lọ mắm cổ ngày xưa... Để có được ba ông vua bếp làm bằng đất sét này, ông Sơn đã phải mất một năm trời lặn lội khắp miền Bắc để tìm. Cuối cùng gặp một chị đồng nát quê ở Thái Bình, cảm kích trước đam mê của ông chị đã khệ nệ gánh 3 ông đầu rau đến tặng ông mà không lấy một xu tiền công nào.
 
Chính giữa phòng trưng bày là bàn thờ có gắn một chiếc mâm đồng thời Nguyễn chạm khắc tứ linh hết sức quý mà ông Sơn phải mua đến 6 triệu đồng.
 
Chính giữa căn phòng là một ban thờ, đồng thời là nơi trưng bày các hiện vật gắn liền với văn hóa tâm linh của người thôn quê gồm bộ đỉnh đồng, đôi hạc, chuông, mõ, mâm bồng thời Nguyễn chạm khắc tứ linh. Đặc biệt, trong chiếc tủ kính cổ được bày những vật dụng tiêu biểu nhất đại diện cho văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ là chú Tễu và chiếc đàn bầu bằng tre. Ngoài ra, còn có cơi đựng trầu của cụ bà, điếu thuốc lào của các cụ ông, một ít trầu không, cau, vỏ, cối giã trầu, bình vôi, điếu bát, thuốc lào v.v...
 
Tất cả các hiện vật đều đã nhuốm màu thời gian nhưng hằng ngày ông Sơn vẫn đều đặn lau chùi, quét bụi để bảo quản. Mới đây, ông còn mua mấy cân thóc để ở trong cối xay, để các cháu nhi đồng đến đây chơi có thể tự xay những hạt gạo bằng chính chiếc cối cũ kỹ này, “để chúng không quên có một thời, ông bà ta đã sống như thế”, ông Sơn chia sẻ.
 
Mới đây ông Sơn còn mua mấy cân thóc đổ vào trong cối xay, để các cháu nhi đồng đến đây chơi có thể tự xay những hạt gạo bằng chính chiếc cối cũ kỹ này.
 
Hà Tùng Long
Bài đã đăng báo Gia đình & Xã hội cuối tuần, số ra ngày 19/3/2009

Ảo thuật đường phố: Thú chơi mới của giới trẻ Hà Thành

Mới xuất hiện gần đây nhưng Street Magic (ảo thuật đường phố) đang trở thành một trong những thú chơi hút hồn giới trẻ Hà Thành.
Trò ảo thuật này lấy đường phố, công viên, quán cà phê hoặc bất cứ một chốn công cộng nào có thể làm chỗ biểu diễn. Và chỉ cần một bộ bài Tây, mấy đồng xu, mấy điếu thuốc lá... là có thể đưa khán giả đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đặc biệt hơn khi những “ảo thuật gia” biểu diễn những trò ảo thuật đó đều còn rất ít tuổi, đa số thuộc thế hệ 8x, 9x.

Xem ảo thuật trên hè phố

Dụng cụ biểu diễn của Street magic dù chỉ đơn giản với một bộ bài Tây, năm sáu đồng xu hoặc mấy điếu thuốc lá…

Street Magic có nguồn gốc từ những màn biểu diễn khéo léo đầy bí hiểm của các ảo thuật gia trên sân khấu ở phương Tây. Để thú chơi này đến gần hơn với giới trẻ và đông đảo công chúng, các ảo thuật gia sân khấu dần đem chúng ra biểu diễn trên các hè phố, công viên, chốn công cộng...

Từ đó, Street magic trở thành một thứ nghệ thuật biểu diễn của hè phố. Street magic du nhập vào Việt Nam thông qua các lưu học sinh du học ở nước ngoài và nó trở nên phát triển khi Internet phổ biến.

Ở Hà Nội, vào một ngày đẹp trời, chỉ cần phóng xe qua tượng đài Lý Thái Tổ, Café Chico Mamboo ở Thái Phiên, Café Mộc ở Trần Huy Liệu hay quanh hồ Tây... bạn có thể dễ dàng bắt gặp các “ảo thuật gia” đang say sưa với các trò biểu diễn. Xung quanh hàng hàng lớp lớp khán giả ngồi lặng thinh theo dõi từng động tác, từng cử động nhẹ của người biểu diễn. Thỉnh thoảng lại có người “à” lên một tiếng vì bỗng dưng lại có một đồng xu hay một lá bài nằm trong túi mình, kèm theo đó là những tràng vỗ tay ròn rã cất lên cùng những tiếng huýt sáo, tiếng cười đầy khoái chí. Đó là chính là street magic.

Thực ra, để có được như ngày hôm nay, các “ảo thuật gia” Hà Nội đã phải bỏ rất nhiều công sức và thời gian để thuyết phục mọi người hiểu street magic là một thú chơi lành mạnh, nó không hề là trò cờ bạc “bịp” hay lừa tiền như nhiều người nghĩ ban đầu. Nhờ thế mà cứ mỗi lần có biểu diễn Street magic ở đâu là các “tín đồ” lại nườm nượp kéo về xem.

“Bí hiểm, bất ngờ, lạ mắt – đó là ba lý do chính khiến giới trẻ bọn em bị Street magic thu hút. Anh thử nghĩ xem, sau những giờ học đầy căng thẳng, được ngồi xoãi mình trên bãi cỏ hoặc trên nền gạch, trong một không gian thật thoải mái để xem các “ảo thuật gia” biểu diễn đủ trò lạ mắt mà lại không mất đồng xu nào thì còn gì tuyệt vời hơn thế?” – Nguyễn Hà An (18 tuổi) sinh viên ĐH Hà Nội hứng khởi nói.

Huy Tú (sinh 1988) biệt danh là Bathazer - chàng “ảo thuật gia” có nhiều trò ảo thuật với bài và xu “độc” nhất Hà Nội hiện nay.

Dụng cụ biểu diễn của Street magic dù chỉ đơn giản với một bộ bài Tây, năm sáu đồng xu hoặc mấy điếu thuốc lá... nhưng khi qua tay các “ảo thuật gia” họ có thể biến hóa ra rất nhiều trò khác nhau.

Theo Creat – một trong những Magician (ảo thuật gia) khá có tiếng ở đất Hà Thành thì hiện nay ở Hà Nội, phổ biến hơn cả vẫn là biểu diễn bài và đồng xu (card and coin). Đây là hai dụng cụ dễ thực hiện trong môi trường lưu động và có thể biểu diễn được nhiều động tác nhất mà không bị trùng lặp.

Riêng với bài đã có thể vừa làm ảo thuật vừa biểu diễn floru (xếp bài thành nhiều hình dạng khác nhau) với hơn 100 động tác, có thể biểu diễn kéo dài từ 10 đến 15 phút. Từ bay lên không trung, bay vòng qua qua tay, biến mất, xếp bài thành tam giác bằng một tay, kéo bài thành lò xo, giấu bài trong túi khán giả... thú vị chẳng khác xem ảo thuật trên tivi hay trên sân khấu các rạp xiếc là mấy.

Chân dung các “ảo thuật gia”

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet mức độ “phủ sóng” của Street magic cũng ngày càng phổ biến hơn. Bởi thế, chuyện nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ 8x, 9x từ chỗ được xem một lần đâm ra “ghiền” rồi quyết tâm “tầm sư học đạo” đã không còn là hiện tượng lạ. Tuy nhiên, theo các “ảo thuật gia” thành danh ở Hà Nội thì dù  số lượng bạn trẻ theo học rất nhiều nhưng thành công thì chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Lý giải điều này, Xuân Khánh (biệt danh “KT Magic”) cho biết: “Học Street magic rất dễ mà cũng rất khó. Dễ vì dụng cụ dễ kiếm, các băng đĩa dạy học bán khắp nơi thậm chí không cần mua mà có thể xem trực tiếp trên mạng, ngồi ở đâu vào bất cứ lúc nào cũng học được. Nhưng khó vì street magic đòi hỏi người chơi phải thực sự kiên nhẫn và khéo léo. Mỗi một động tác dù đơn giản nhất nhưng cũng phải tập không dưới một nghìn lần thì mới có thể thành thạo được”.

Hiện nay ở Hà Nội, xứng đáng để mang danh “ảo thuật gia hè phố” chỉ có 5 người, đều là nam và chơi rất thân với nhau. Họ là những người theo Street magic ngay từ những ngày đầu thú chơi này du nhập vào Hà Nội và đã từng biểu diễn “nhẵn mặt” trên các con phố, trong các sự kiện lớn của giới trẻ ở các trường phổ thông.

Những cái tên khi xướng lên cũng rất đậm chất Street magician như: KT Magic, Bathazer, Sói lang thang, Creat và Trung Hiếu. Trong số 5 “tên tuổi” này, người nhiều tuổi nhất sinh năm 1987, còn lại đều xấp xỉ hoặc thua kém nhau một vài tuổi. Hầu hết các “ảo thuật gia” này đều cho biết đến với Street magic là hoàn toàn tình cờ nhưng lại rất đam mê.

Huy Tú (sinh 1988) còn có biệt danh là Bathazer - chàng “ảo thuật gia” có nhiều trò ảo thuật với bài và xu “độc” nhất Hà Nội hiện nay - còn nhớ như in kỷ niệm lần đầu tiên đến với Street magic: “Em theo học Street magic từ năm 2006. Lần đầu tiên em được ông anh họ đi du học ở Mỹ về biểu diễn cho xem. Từ đó em như bị mê hoặc bởi các trò ảo thuật bí hiểm qua những lá bài ma quái. Nài nỉ mãi, ông anh mới chịu chỉ cho mấy chiêu cơ bản. Còn lại em phải tự mua đĩa, tải clip trên mạng về xem rồi tự học. Động tác đầu tiên em tự tập là kéo bài lò xo, ngay khi mới tập được hai lần đã bị lốc luôn cả móng tay. Thấy thế bố mẹ em đốt hết bài, tuyệt đối không cho học nữa nhưng em vẫn cứ học chui”.

Cho đến nay, sau ba năm kiên trì khổ luyện, ngoài những lần biểu diễn miễn phí cho các bạn xem trên các đường phố Hà Nội, thi thoảng Huy Tú còn nhận được các lời mời biểu diễn ở các khách sạn, đám cưới, tiệc sinh nhật, quán bar ở Hà Nội, Hải Phòng...

Trung Hiếu đang ngồi biểu diễn cho các bạn của trường THPT Trần Phú xem.

Nếu Huy Tú “đỉnh” về ảo thuật thì Trung Hiếu (1987) lại đứng đầu về “ngón” biểu diễn bài (floru). Trong mỗi lần biểu diễn, Hiếu luôn xen kẽ các tiết mục ảo thuật với biểu diễn bài nhưng biểu diễn bài vẫn là sở trường của Hiếu. Hiếu theo học Street magic qua internet từ khi còn du học ở Singapore.

Ban đầu, Hiếu chỉ nghĩ học Street magic như một thú giải trí sau những giờ học căng thẳng. Lâu dần thành quen và đam mê từ lúc nào không biết. “Street magic đã giúp em biết kết hợp các động tác tay chân với mắt nhanh nhẹn, khéo léo và tinh tế hơn. Ngoài ra, trong những lần đi biểu diễn nó giúp tăng thêm sự tự tin khi đứng trước đám đông” – Hiếu tâm sự.

Ngày mới tập, hễ tập được “chiêu” nào mới Hiếu lại trình diễn cho các bạn trong phòng cùng xem. Những tràng pháo tay tán dương, những ánh mắt ngạc nhiên của các bạn chính là món quà khiến Hiếu kiên trì khổ luyện. Cho đến bây giờ dù đã đi làm, thời gian không có nhiều để đi biểu diễn ở đường phố, nhưng hễ về đến nhà là Hiếu lại cầm ngay lấy bộ bài.

Trong “gia tài” của Hiếu hiện có tới 12 bộ bài Tây được Hiếu gửi mua từ nước ngoài. Trong số đó chỉ còn một bộ duy nhất là còn sử dụng được, còn lại đều đã bị “nhão” qua những lần tập luyện nhưng Hiếu vẫn giữ nó như những kỷ vật của riêng mình.

Hà Tùng Long
Bài đã đăng báo Gia đình & Xã hội Cuối tuần, Số ra ngày 19/3/2009

Xôn xao tiên giáng hình trên gạch sân chùa

Trong mấy ngày qua, cả tỉnh Bắc Giang và một số vùng lân cận xôn xao, lan truyền nhau chuyện lạ về việc: tiên giáng hình trên nền gạch sân chùa Đông Sơn (thôn Tân Sơn, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, Bắc Giang).
Sự việc xảy ra vào 10h30 ngày 7/3 sau khi tốp thợ xây chùa Đông Sơn lát xong sân gạch thì trên nền gạch mới bỗng nổi lên những hình thù kỳ lạ, lúc giống hình của một cô tiên, lúc có hoa văn giống các ký tự chữ Hán cổ…(theo lời vị trụ trì chùa Đông Sơn). Hiện trên nền gạch những dấu vết đó đang mờ dần nhưng hàng ngày vẫn có hàng nghìn người dân hiếu kỳ từ khắp mọi nơi đổ về chùa để xem và cúng bái.
 
“Tiên giáng hình” trên nền gạch sân chùa?!
 
Phải khó khăn lắm, phóng viên Báo GĐ&XH mới chen qua được các đám đông giăng kín hai lối đi vào chùa. Hàng hàng lớp lớp xe ô tô, xe máy, xe đạp của người dân ở các vùng lân cận và dân trong tỉnh đổ xô đến đây để xem “hiện tượng lạ có một không hai” này.
 
Nhiều người thi nhau chụp ảnh viên gạch đặc biệt có hình tiên nữ. (Ảnh: H.T.L)
 
Theo quan sát của chúng tôi, trên sân chùa rộng hơn 100m² với hàng trăm gạch đỏ, mỗi viên có kích thước 30x30cm đều hiện lên những vệt có màu trắng như vôi và nằm trong lòng mỗi viên gạch. Các hình thù trên mỗi viên gạch đều rất khác nhau, không viên nào giống viên nào nhưng hiện các dấu vết này đang bị mờ dần.
 
Nhiều người dân ở đây cho biết, một số cụ cao niên trong làng biết chữ Hán khi ra xem đã đọc được những chữ: Tâm – Đức – Phúc –Lộc – Tài... rải rác trên nhiều viên gạch trong khuôn viên sân mới này. Ngoài ra, còn có một viên gạch rất đặc biệt và duy nhất được nhiều người dân ở đây cho rằng có hình một tiên nữ. Hiện bên viên gạch này, nhà chùa cùng khách thập phương đặt mâm thờ khói hương nghi ngút và ai đến xem cũng vái lạy rất thành kính.
 
Ông Ngô Quang Phúc, 70 tuổi, là người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng lạ này cho biết: “Chùa Đông Sơn vốn khi xưa là một ngôi miếu nhỏ, được xây dựng tạm bợ trên nền đất của một khu chiến hào quân sự bí mật. Từ năm 2005 trở lại đây, dân địa phương quyên góp tiền tiến hành xây lại chùa. Sau khi đã hoàn thành gần như xong các hạng mục công trình thì đến ngày 5/3/2009 nhà chùa cùng 3 người thợ nề của địa phương bắt đầu lát gạch. Lát được nửa sân thì trời mưa nên nghỉ. Đến sáng 7/3 lại tiến hành lát tiếp nửa sân còn lại và đến 10h30 thì hoàn tất. Sau khi lát gạch xong các cụ thỉnh chuông làm lễ cúng Phật trong chùa thì tự nhiên tôi thấy rùng mình, nước mắt tự nhiên ứa ra. Xấu hổ quá, tôi lấy cớ xin phép các cụ ra sân để bảo các cháu cất các dụng cụ vương vãi trên sân thì chợt phát hiện trên nền gạch đỏ nổi những vệt trắng như hoa văn mà trước đó 20 phút không hề có hiện tượng gì. Có những chỗ có hình thù như một tiên nữ, có chỗ như là chữ Hán và có chỗ như là một chuỗi ngọc hay cây trâm cài tóc... Thấy thế, tôi liền thông báo cho các cụ trong chùa rồi cho các cháu đóng cọc, giăng giây che kín lại để giữ nguyên hiện trường và báo cho chính quyền đến làm việc”.
 
Theo lời của bà Ngô Thị Tín, 71 tuổi, trụ trì của chùa Đông Sơn cùng với ba thợ nề trực tiếp lát sân thì vật liệu dùng để lát gạch, ngoài loại gạch đỏ 30x30 mua của công ty Tân Xuyên cũng chỉ dùng xi măng và cát xây dựng, không hề dùng bất kỳ một tí vôi nào. Tuy nhiên, trong quá trình lát sân bị thiếu mất 20 viên, nhà chùa vay tạm của một gia đình trong thôn để lát thì cả 20 viên đó đều nổi lên những hoa văn kỳ lạ mà ở gia đình đó lát loại gạch này lại không thấy có hiện tượng gì.
 
Rất đông người hiếu kỳ từ khắp mọi nơi đổ về xem “hiện tượng lạ”.
 
Chỉ là  hiện tượng phản ứng  hóa học đơn thuần
 
Kể từ khi xuất hiện “hiện tượng lạ” này, mỗi ngày đã có tới hàng nghìn người từ khắp mọi nơi đổ về chùa để thỏa mãn sự hiếu kỳ. Nhiều đoàn xe từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh... trên đường đi công tác, khi nghe tin cũng ghé qua để xem.
 
Theo bà Tín, thời điểm người đến xem đông nhất là vào ngày Chủ nhật, 8/3. Hôm đó, cả hai con đường tả, hữu dẫn vào chùa đã bị tắc nghẽn, đông nghịt người. Trong khuôn viên chùa không có chỗ để đứng. “Có hôm có cụ -  người ở thôn làng bên, 10h đêm vẫn bắt con cháu cõng đến để xem cho bằng được hiện tượng này vì ban ngày không chen nổi...” – bà Tín kể.
 
“Cá nhân tôi cho rằng đây là sự việc bình thường. Năm ngoái nhà tôi làm sân dùng loại gạch này cũng xuất hiện những hình thù tương tự, dần dần sẽ mất đi”.
 
(Ông Trần Văn Lạng - Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang)
Điều lạ là trong khuôn viên chùa có hai sân đều lát cùng một loại gạch giống nhau, chỉ khác nhau về kích thước mà sân lát đầu tiên thì lại không có “hiện tượng lạ” này xảy ra. Cho đến nay, dù các “vệt vôi” này đang mờ dần và có hiện tượng biến mất nhưng lượng người đổ về đây càng lúc càng đông. Thậm chí đã phải có một bảo vệ không biết là do thôn cử hay tự phát đứng bảo vệ sân và chỉ cho mọi người được phép đứng ngoài sân để xem chứ không được bước chân vào trong.
 
Khi nghe tin có hiện tượng này, nhà máy gạch Tân Xuyên đã cử một đoàn xuống xem để tìm hiểu. Nhưng khi chúng tôi hỏi ông Nguyễn Tiến Mạnh – Tổng giám đốc Nhà máy gạch Tân Xuyên thì được cho biết, đến thời điểm này nhà máy vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên. Ông Mạnh nói: “Mỗi năm chúng tôi sản xuất hàng triệu viên gạch như thế và cung ứng khắp mọi nơi nhưng chưa thấy hiện tượng nào tương tự xảy ra. Chúng tôi cũng không dám nói đó là một chuyện lạ mang màu sắc huyền bí mà chỉ dám phỏng đoán có thể là một hiện tượng phản ứng hóa học. Bởi loại gạch đỏ này được chúng tôi làm từ đất sét, nung ở nhiệt độ cao nhưng khi được lát trên nền đất ẩm mà trong đất lại có chứa một số chất hóa học nào đó thì vẫn có thể xảy ra hiện tượng phản ứng hóa học...”.
 
Ông Ngô Quang Phúc, 70 tuổi là người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng lạ đang chỉ viên gạch có hoa văn chữ Hán.
 
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Sơn Hà – Phó chủ tịch UBND xã Tân Dĩnh cho biết: “Chúng tôi đã có công văn thông báo lên các cấp ngành ở huyện, tỉnh về hiện tượng này. Theo chúng tôi, đây chỉ đơn thuần là một hiện tượng phản ứng hóa học bình thường trong điều kiện thời tiết bất thường. Gạch sau khi ra lò, được để trong nhà kho một thời gian thì mới đem ra sử dụng. Những gạch nào được lát trong môi trường khô ráo thì không có hiện tượng gì xảy ra. Còn gạch khi được lát trên nền đất ẩm ướt, cộng với khí hậu mùa xuân, mưa phùn như mấy ngày qua sẽ tạo nên hiện tượng thấm nước khi gặp trời nắng liền nổi lên những hoa văn màu trắng như vệt vôi. Hiện tượng này từng xảy ra ở một số gia đình trong xã trước đây. Chúng tôi đã đề nghị chính quyền thôn tuyên truyền để bà con hiểu và không làm những việc mê tín dị đoan...”.
 
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội Cuối tuần, số ra ngày 12/3/2009

Làng Bồng còn mỗi “đĩ” Hồng ấy thôi!

Nhắc đến Triều Khúc người ta nghĩ ngay đến một vùng xưa nay vẫn nổi tiếng với nhiều nghề thủ công truyền thống như: dệt, thêu, làm tua, nhuộm sợi, làm chổi phất trần... đặc biệt là nghề làm nón quai thao nhưng ít ai biết được Triều Khúc (quận Thanh Xuân) còn có một “đặc sản” khá độc đáo đó là múa Trống Bồng hay còn gọi là múa “con đĩ đánh bồng”.
Múa Trống Bồng là điệu múa có tính diễn xướng nghi lễ tồn tại bao đời nay ở Triều Khúc nhưng trong chặng đường dài lịch sử chưa có người nào tâm huyết và giữ “lửa” bền như “con đĩ” Triệu Việt Hồng. 
Ông Hồng bên cạnh đội múa Trống Bồng và múa sinh tiền trong ngày hội làng.
Từ hoạn lợn, bốc mả… ở làng
Múa Trống Bồng Triều Khúc có từ lúc nào người làng không ai biết, chỉ biết rằng đến thời điểm hiện tại làng chỉ còn có hai người am hiểu nhất về múa Trống Bồng. Hai người ở hai thế hệ khác nhau, từng là thầy trò và cũng từng “cặp đĩ” với nhau trong mỗi dịp làng mở hội múa Trống Bồng.
Người già nhất là cụ Bùi Văn Tốt năm nay đã 86 tuổi. Trí tuệ vẫn còn mẫn tiệp nhưng vì tay chân yếu nên múa Trống Bồng được cụ sử dụng như bài tập thể dục buổi sáng cho đỡ “ngứa ngáy tay chân”. Người thứ hai là ông Triệu Việt Hồng năm nay đã 62 tuổi – người vẫn được dân làng Triều Khúc truyền tụng qua hai câu thơ: “Thân giai làm đĩ đánh bồng. Làng này còn mỗi tay Hồng ấy thôi”.
Ông Hồng vốn là học trò của cụ Tốt từ những ngày tóc còn để chỏm. Mới đầu, dù say mê múa Trống Bồng nhưng khi xin theo học cụ Tốt đã không dám nhận vì nhìn ông Hồng quá nhỏ bé, sợ không có sức theo học. Thế rồi “máu” đam mê cứ thấm dần vào cậu bé Triệu Việt Hồng để mỗi lần nghe tin thầy Tốt dạy múa Trống Bồng cho người làng ở đâu là cậu bé Hồng lại mon men đến học lỏm.
Một lần vì thiếu “đĩ” múa Trống Bồng cho ngày hội làng, ông Hồng đã xung phong múa thay. Cả làng Triều Khúc hôm ấy đã phải ngạc nhiên đến sững sờ khi cậu bé Triệu Việt Hồng quá xuất sắc trong từng động tác mà không biết cậu học từ đâu. Cảm động trước lòng say mê của cậu học trò nhỏ, cụ Tốt đã quyết tâm truyền lại toàn bộ vốn liếng múa Trống Bồng cho ông.
              Ông Triệu Việt Hồng đang mô phỏng các động tác múa Trống Bồng
              trước bàn thờ gia tiên.
Ông nói: “Đã hơn 30 năm theo nghiệp múa Trống Bồng tôi như một “con đĩ” lỡ mang “bệnh” nên không biết làm cách nào để thoát khỏi nó... cho đến khi múa Trống Bồng như một cái “vận” càng ngày càng “lận”vào thân thì tôi biết chắc là tôi sẽ sống với nó đến lúc sức tàn lực kiệt”. 30 năm mang thân làm “đĩ đánh bồng”, ông Hồng vẫn còn nhớ như in những khoảng thăng trầm suy thịnh của múa Trống Bồng.
Những năm 1978 - 1979, khi kinh tế hãy còn khó khăn, nhà nhà lao vào làm ăn, thanh niên trai tráng phải dạt đi muôn phương để kiếm kế sinh nhai, múa Trống Bồng tưởng chừng như bị thất truyền luôn từ đó. Riêng ông Hồng thì lại cứ bám lấy quê nhà chẳng dám đi xa. Dù hoạn lợn nghiệp dư hay bốc mả, thổi kèn đánh trống cho phường bát âm... việc gì ông cũng cam, ai gọi làm gì ông cũng làm miễn sống được giữa quê nhà để còn giữ múa Trống Bồng.
Số tiền ông kiếm được từ những công việc được xem là hạng bét đó ông chia làm 3 phần, 1 phần để vợ con trang trải gia đình, 2 phần còn lại ông dành tất cho đội múa Trống Bồng. Nào mua khăn sắm áo, mua son phấn, trống kèn và thậm chí là bồi dưỡng cho anh em đoàn múa trong những chuyến đi diễn xa. 30 năm ông làm “tổng đạo diễn”, “con đĩ đánh bồng” Triệu Việt Hồng đã đào tạo được 4 lớp múa Trống Bồng với 12 “con đĩ” và mỗi ngày chỉ dám dạy cho các “cặp đĩ” một động tác mà thôi.
Đến xúng xính áo quần lên phố
Mặc dù người làng Nhật Tân, Lệ Mật cũng có múa Trống Bồng nhưng không có nơi nào có thể thể hiện được một cách bài bản và điệu nghệ được 36 thế múa Trống Bồng như người làng Triều Khúc. Có lẽ vì thế mà từ một nghi lễ diễn xướng chỉ biểu diễn vào những ngày làng mở hội vào mùng 9 tháng giêng hàng năm để tưởng nhớ Bố Cái Đại Vương – Phùng Hưng, múa Trống Bồng đã trở thành một môn nghệ thuật có tiếng gần xa.
Chính “con đĩ” Triệu Việt Hồng là người đã trực tiếp đưa múa bồng đến với nhiều sự kiện văn hóa cộng đồng để mọi người được thưởng thức. Ông kể: “Lúc đầu múa Trống Bồng chẳng có ai biết đến ngoài người làng Triều Khúc nhưng tôi thấy phí quá. Múa Trống Bồng là một nghệ thuật, nó cũng đòi hỏi người biểu diễn phải tập luyện rất công phu, từ động tác múa đến cách biểu diễn khuôn mặt, từ cách đánh mắt đến cách mở miệng cười nên chẳng thua gì các môn nghệ thuật khác, điều đó thôi thúc tôi phải tìm mọi cách để ai cũng biết đến múa Trống Bồng...”.
Cũng từ đó múa Trống Bồng Triều Khúc bắt đầu có mặt ở nhiều sự kiện văn hóa lớn của dân tộc như: Hội nghị cao cấp các nước nói tiếng Pháp, 25 năm ngày giải phóng Sài Gòn, Lễ hội văn hóa Hà Nội chào mừng Hội nghị APEC lần thứ XIV, Lễ hội múa cổ Thăng Long và gần đây nhất là Hội đón Xuân Kỷ Sửu 2009... Bao nhiêu lần đi diễn xa là bấy nhiêu lần ký ức ông lại đong đầy kỷ niệm. Có lần ông dẫn đoàn đi diễn ở nội thành Hà Nội, chuẩn bị đến tiết mục diễn của đoàn thì một “con đĩ” trong đoàn bị đau bụng. Trong lúc “tiến thoái lưỡng nan” người “tổng đạo diễn” già lại nhanh chóng lui vào hậu trường thay đổi xiêm y, trát phấn quét son hóa thân thành “con đĩ” trong chớp nhoáng để tiết mục của đoàn không bị đổ.
Múa Trống Bồng vốn là điệu múa của con gái vì con gái bao giờ cũng múa dẻo và lẳng lơ, “đĩ” hơn con trai nhưng do quan niệm từ ngày xưa con gái không đuợc vào nơi thờ cúng thần linh nên múa Trống Bồng chỉ chọn thanh niên trai tráng. Ngày xưa khi còn khó khăn, múa Trống Bồng không cầu kỳ lắm về phục trang nhưng càng về sau này phục trang được chuẩn bị rất kỹ càng. Nam hóa trang thành nữ mà nhìn vào không ai nhận ra, quần áo cũng đẹp và sặc sỡ hơn. Ông Hồng từng phải một mình đạp xe lên tận các phố nội thành để đặt may từng bộ trang phục, từng chiếc khắc, chiếc tất cho “diễn viên”. Mỗi lần hóa trang cũng chính ông lại người đi chỉnh từng nếp khăn, tấm áo hoặc chính tay ông trang điểm cho từng người.
Đã 62 tuổi, hàng ngày “con đĩ” Triệu Việt Hồng vẫn tập luyện cho các cặp đĩ từng động tác một. Hễ cứ mỗi lần chuẩn bị đi đâu biểu diễn là ông lại lo toan chuẩn bị chu đáo mọi thứ từ mấy ngày trước đó. Có lẽ vì thế mà khi giao toàn bộ “sự nghiệp” múa Trống Bồng cho cậu học trò “ruột” của mình cụ Bùi Văn Tốt đã chẳng dặn dò gì bởi cụ hiểu múa Trống Bồng sẽ không bao giờ bị thất truyền khi qua tay “con đĩ” Hồng.
Tương truyền, khi đại quân của Bố Cái Đại Vương đến đánh thành Tống Bình, Phùng Hưng giấu quân tại làng Triều Khúc, dân sở tại đã dùng múa Trống Bồng này để động viên tướng sĩ trước khi vào trận, múa Trống Bồng có lẽ bắt nguồn từ đó.
Múa Trống Bồng Triều Khúc thông thường có hai đôi là nam giới cải trang thành nữ chít khăn mỏ quạ, mặc áo váy, phấn son đeo trống bồng biểu diễn trong tiếng nhạc, chuông trống. Người múa trống bồng có động tác đánh trống khoa rộng tay, nhấc chân cao bước rộng, người đảo phóng khoáng và khuôn mặt lúc nào cũng tươi như hoa. Đặc biệt có động tác dựa lưng vào nhau và múa uốn lượn lả lướt mang ý nghĩa hưởng thụ hạnh phúc.
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội cuối tuần, số ra ngày  4/3/2009

Không nên đưa nhân vật đồng tính vào phim chỉ để mua vui rẻ tiền

Để có cái nhìn thấu đáo hơn về cách xây dựng nhân vật đồng tính trong phim truyền hình đã tạo nên nhiều dư luận trong thời gian qua, chúng tôi đã có buổi trò chuyện với nhà văn Thùy Linh – PGĐ Trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC) của Đài truyền hình Việt Nam về vấn đề này.
 
Các nhà làm phim cảm nhận theo chủ quan
 
- Dưới góc độ của một nhà quản lý, bà nhìn nhận như thế nào về việc xây dựng các nhân vật đồng tính trong phim truyền hình thời gian qua?
 
- Tôi thấy người đồng tính không quá khác biệt với người bình thường nên không việc gì phải ồn ào lắm về các nhân vật đồng tính. Có khác chăng là do định kiến xã hội đã tạo ra những sự khác biệt quá lớn nên người đời hay để ý đến các nhân vật đó.
 
Tôi thấy các nhà làm phim đã cố gắng khai thác loại nhân vật này như một người bình thường. Với những hoàn cảnh như thế, họ có những tâm lý như thế, làm sao để phù hợp với họ. Tôi chỉ nghĩ đơn giản thế thôi. 
 
"Thế giới không đàn bà" ít nhiều đã phản ánh được những giằng xé nội tâm, những bi kịch giới tính. 
 
- Theo bà, việc xây dựng các nhân vật đồng tính trong phim truyền hình hiện nay có thực sự thành công?
 
- Theo tôi, có cả thành công lẫn thất bại. Thành công vì nhân vật đồng tính đã được xuất hiện một cách rất tự nhiên trong một không gian không có gì đặc biệt. Thành phần nhân vật cũng đa đạng hơn. Và có lẽ ít nhiều đã được khai thác ở một góc nhìn nhân ái hơn. Như trong phim “Thế giới không đàn bà”, nhân vật chính là một người đồng tính. Dù chưa đi sâu khai thác hết các góc cạnh của người đồng tính nhưng ít nhiều đã phản ánh được những giằng xé nội tâm, những bi kịch giới tính và những sự bất công đối với họ của người đời.
 
Thất bại vì đa số người đồng tính còn sống khép kín, bí ẩn nên các nhà làm phim chưa có điều kiện để hiểu họ, để nhìn nhận đúng về họ do đó khi xây dựng nhân vật, mới chỉ dừng ở mức độ hiểu biết của mình. Họ  chỉ mới khai thác những khía cạnh mà mọi người dễ nhìn thấy để tạo ra sự khác biệt đối với những nhân vật khác. Đó là khiếm khuyết của nhà làm phim.
 
Sự hiểu biết lý trí là chưa đủ
 
- Vậy có nghĩa là các nhà làm phim chưa thực sự đồng cảm và hiểu biết về người đồng tính nên đã đưa nhân vật đồng tính vào phim như một yếu tố câu khách?
 
-  Tôi nghĩ, không phải tất cả đều như thế. Chưa hiểu biết nhiều không có nghĩa là không hiểu biết gì và càng khác hẳn với việc hạ thấp nhân vật. Nếu nhà làm phim đưa nhân vật đồng tính vào phim thì trước tiên vẫn chỉ muốn khai thác thêm một nét tính cách để bộ phim sâu sắc hơn mà thôi.
 
Tuy nhiên, tôi cũng không phủ nhận có một số nhà làm phim lấy đó làm yếu tố để câu khách. Cái đó chúng ta nên tránh. Đừng nên đưa nhân vật đồng tính vào phim như một phương tiện mua vui rẻ tiền. Nếu thực sự nhân vật đó không cần thiết trong toàn bộ phim thì không nên gượng ép đưa vào. 
 
Cảnh trong phim "Trai nhảy" có nhân vật chính là đồng tính.
 
- Theo bà, để khắc họa hình tượng nhân vật đồng tính thực sự có chiều sâu và có tính phổ quát, đồng thời đạt được những giá trị nghệ thuật, các nhà làm phim truyền hình nên thay đổi như thế nào?
 
-  Không chỉ có sự hiểu biết của trí tuệ mà cần phải có sự hiểu biết của trái tim. Bên cạnh việc đồng cảm, xem họ như một người bình thường và được phép đối xử công bằng, cần phải có những kiến thức về giới đó cả về đời sống, chiều sâu tâm lý và thậm chí cả những kiến thức khoa học. 
 
Và nói đi cũng phải nói lại, những người đồng tính cũng hãy cố gắng sống cởi mở hơn, thoải mái hơn. Vẫn biết trong một xã hội còn mang nặng truyền thống Á Đông như Việt Nam thì việc đó không phải là dễ. Thế nhưng, nếu cứ dũng cảm sống thật với chính mình, cố gắng chứng tỏ cho những người xung quanh thấy mình hoàn toàn bình thường thì định kiến đó qua thời gian rồi cũng sẽ đổi thay và dần dần chấp nhận họ.
 
- Xin cảm ơn bà!
 
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội số thường, ra ngày 26/12/2008

Các đạo diễn nói gì về nhân vật đồng tính trong phim Việt?

Trong bài viết trước, chúng tôi có phản ánh những ý kiến phản đối cách xây dựng nhân vật đồng tính trong phim Việt. Theo những ý kiến này, các nhà làm phim đã xây dựng nhân vật đồng tính theo một mô típ, hời hợt và thường đưa vào phim như một yếu tố để mua vui. Để rộng đường dư luận, chúng tôi đã trao đổi với một số đạo diễn của những bộ phim đã được “nhắc tên” về vấn đề này.
 
Đạo diễn Phi Tiến Sơn (đạo diễn phim “Nhà có nhiều cửa sổ”):
 
Các nhà làm phim đã ít nhiều thành công
 
Những năm gần đây, vấn đề đồng tính ngày càng nhận được sự quan tâm của xã hội, trong đó có điện ảnh và truyền hình. Các nhân vật đồng tính đã được thể hiện đa dạng và gần gũi hơn. Nếu những năm trước, họ xuất hiện với một hình ảnh dị biệt, xa lạ, đơn giản về tính cách (có lẽ để tạo sự khác lạ - tạo yếu tố bất ngờ) thì nay, trong nhiều bộ phim, mô típ nhân vật này đã sống động, đời thường và có số phận rõ nét hơn.
 
Đạo diễn Phi Tiến Sơn.
Các nhà làm phim đã ít nhiều thành công với dạng nhân vật này vì có sự tìm tòi, khai thác thân phận, hoàn cảnh éo le, góp phần cải thiện đánh giá của xã hội đối với vấn đề này. Cái nhìn cảm thông, chia sẻ của người làm phim thể hiện ngay trong cách giải quyết những tình huống tế nhị, trong việc đa dạng hóa nhân vật. Nhân vật đồng tính ngày trước thường là tiểu thương, má mì, lừa đảo, nay là trí thức, nghệ sĩ, công an... những típ nhân vật vốn đại diện cho cái thiện.
 
Tuy nhiên, không phải bộ phim nào cũng đạt được điều đó. Chúng ta không phủ nhận sự thất bại của một số nhà làm phim trong cách xây dựng nhân vật này vì thiếu sự tinh tế, yếu kém về tay nghề khi thể hiện các vấn đề nhạy cảm (không chỉ riêng đề tài đồng tính). Chắc còn lâu chúng ta mới vươn được tới tầm của Lý An trong phim “Brokeback Mountain”.
 
Nhân vật Niệm (phải) trong "Nhà có nhiều cửa sổ" là người bị đồng tính.
 
Phim “Nhà có nhiều cửa sổ” đề cập đến hiểm họa HIV/AIDS, trong đó có mối quan hệ của những người đồng tính. Bộ phim vừa là sự cảnh báo, vừa đề cao văn hóa cộng đồng, lòng nhân ái và đạo đức xã hội. Đây là một đề tài khó, chúng tôi đã tìm mọi cách để khai thác nhân vật dưới một góc độ hết sức tự nhiên, đời thường nhất. Và nếu vì thế mà “câu” được nhiều khán giả xem phim thì tôi rất mừng.
 
Đạo diễn Mai Hồng Phong (đạo diễn phim “Vòng nguyệt quế”):
 
Vì chưa hiểu nên chỉ phản ánh được cái bên ngoài
 
Chúng ta phải thừa nhận rằng phim ảnh, văn học hay báo chí đều xuất phát từ thực tế xã hội và có tác dụng phục vụ đời sống xã hội. Đồng tính cũng là một phần của cuộc sống, do đó các nhà làm phim đề cập đến âu cũng là chuyện thường tình.
 
Đạo diễn Mai Hồng Phong.
Tuy nhiên, khách quan mà nói vẫn có phim khi xây dựng nhân vật này đã thể hiện một cái gì đó chưa thực sự hiểu biết về người đồng tính. Vì chưa hiểu nên họ chỉ dám phản ánh những cái mà họ thấy bên ngoài. Họ chưa dám đi sâu vào khai thác ở mọi góc cạnh mà chỉ xây dựng như một nhân vật phụ để tô vẽ cho nhân vật chính. Bên cạnh đó, bản thân diễn viên khi diễn do chưa hiểu biết nhiều nên nhân vật bao giờ cũng chỉ có những tính cách ẻo lả, điệu đà, õng ẹo... mang tính gượng gạo trong khi các bộ phim nước ngoài không thế. Dù là vai phụ, ở nước ngoài người ta diễn rất chỉn chu, có chiều sâu. Chỉ trong không gian riêng họ mới để nhân vật bộc lộ mình. Điều đó càng làm cho người xem tò mò, thấu hiểu hơn mà lại không phản cảm.
 
Thú thật là tôi cũng chưa thỏa mãn với nhân vật giám đốc nhà xuất bản và nhà thơ Thái Bạch trong phim “Vòng nguyệt quế”. Tôi cứ có cảm giác nhân vật này lúc nào cũng dễ dàng bộc lộ giới tính của mình hoặc không kìm nén được cảm xúc. Chính điều này tạo nên sự gượng ép cho nhân vật. Tôi sẽ rút kinh nghiệm về điều này.
 
Tôi nghĩ, các nhà làm phim quen nhìn nhận theo thói quen chủ quan của mình. Do đó muốn thay đổi được điều này, trước hết phải thay đổi từ cách nhìn nhận. Đã đến lúc chúng ta nên làm những bộ phim về người đồng tính dám đứng lên công khai giới tính của mình như một số cuốn tự truyện gần đây. Có như thế mới tạo cho người đồng tính một sự dũng cảm để sống thanh thản hơn.
 
Đạo diễn Nguyễn Minh Chung (đạo diễn phim “Cô gái xấu xí”):
 
Tuỳ thuộc vào từng phim
 
Đạo diễn Nguyễn Minh Chung.
Theo tôi, đồng tính hay vô tính thì cũng là con người và họ đều có thể là đối tượng phản ánh của phim ảnh. Tuy nhiên, do đây là vấn đề nhạy cảm nên phản ánh làm sao không phản cảm mà vẫn truyền tải được những thông điệp ý nghĩa để xã hội cảm thông hơn với người đồng tính.
 
Dù là nhân vật chính hay nhân vật phụ thì khi nhà làm phim đưa nhân vật đồng tính vào phản ánh, cũng có nghĩa là họ đã để ý hơn đến người đồng tính. Nhưng có thể do nội dung và ý nghĩa của mỗi phim khác nhau nên sự phản ánh cũng khác nhau. Việc có nhiều người nói những nhà làm phim phản ánh hời hợt hay xây dựng các nhân vật đồng tính như một yếu tố mang tính chất mua vui không hẳn là không có nhưng cũng tùy thuộc vào phim.
 
Nhân vật Hùng Long (giữa) trong phim "Cô gái xấu xí" cũng là một vai đồng tính.
 
Phim “Cô gái xấu xí” xuất hiện nhân vật Hùng Long. Trong nguyên tác kịch bản nước ngoài đây là một nhân vật đồng tính. Bên ngoài, người xem thấy Hùng Long hết sức xù xì, lúc nào cũng như một con mụ lắm điều, rất đanh đá nhưng anh ta lại là người có tài, rất tình cảm, biết phải trái, biết trân trọng yêu thương mọi người.
 
Có thể, nhân vật Hùng Long do nghệ sỹ Đức Hải diễn đôi lúc hơi quá, nhất là mỗi lúc nhọn miệng, xỉa xói người này, châm chọc người kia, nói rất ác độc nhưng thẳm sâu trong tâm hồn anh ta là một người cực kỳ tình cảm, yêu cái đẹp đến mức cực đoan và biết phân biệt kẻ tốt người xấu. Rõ ràng, nhân cách của anh ta là điển hình của nhiều người đồng tính ngoài đời thực. Mỗi lần Hùng Long xuất hiện lại mang đến những tiếng cười vui vẻ nhưng đồng thời nhiều người đồng tính cũng thấy mình trong đó. Còn gì hơn khi nhân vật vừa có chiều sâu, điển hình cho một lớp người lại vừa có giá trị về mặt nghệ thuật?
 
Hà Tùng Long
Bài đã đăng trên báo Gia đình & Xã hội số thường, ra ngày 24/12/2008