Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

12 con giáp gốc Việt

Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.
Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại

Theo văn hóa Phương Đông, lịch được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng. Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.

Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.
 
12 con giáp Việt trong cung Hoàng Đạo

Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa. Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (California, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.

“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.

Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài... hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.

Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo... Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.
 
Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông và vợ ở Viện Việt học

Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”... vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt/chuột chính là các cách đọc của Tý sau này.

Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?

Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hóa Trung Quốc có xuất phát từ văn hóa Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Mát qua cuốn “Lịch sử  âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Ðế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”... Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hóa là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Ðường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.
 
12 con giáp cổ.

Theo ông Thông, ngoài hai chi Tý/Tử/chuột, Mão/ Mẹo/mèo là dễ nhận thấy nhất thì những chi còn lại khi so sánh trong tương quan ngữ âm, ngữ nghĩa cũng đều cho ra những kết quả khá bất ngờ.

Ví dụ với trường hợp của Thân là chi thứ 9 trong bản đồ Hoàng Đạo. Nếu xem cách viết chữ Thân bằng bộ điền với nét giữa dài hơn với cách viết chữ Khôn (một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh. Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và Khôn, tuy nhiên tiếng Việt cổ có chữ khọn là con khỉ (người Huế hay người xứ Nghệ hiện nay một số chỗ vẫn còn những câu cửa miệng “tuồng mặt con khọn” để ám chỉ những người vô tích sự, chẳng làm chẳng nên trò trống gì). Thành ra, Thân chính là khỉ, tiếng Việt cổ dù biến âm th-kh rất hiếm gặp trong tiếng Việt ngày nay nhưng nó vẫn còn dấu tích của những từ cặp đôi như: thân- cận- gần, thận- cẩn (thận trọng, cẩn trọng). 

Tương tự với trường hợp của con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng rồng là một con vật tiêu biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con vật có mặt trong 12 con giáp của cung Hoàng Đạo. Nhưng ít ai biết được rằng rồng thực sự là con vật chủ của người Việt cổ và ngày xưa người Việt đã có những từ ngữ riêng để nói đến rồng hay thìn. Thìn/Thần dấu tích còn lại trong giọng Bắc Kinh hiện nay chỉ còn chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần của Hán Việt. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là tlan (Tiếng Việt cổ - âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts - mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản...) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn - thằn lằn, tlian - thuồng luồng... cho thấy vết tích của rồng trong các ngôn ngữ phương Nam. 
Lý giải về nguyên nhân dẫn đến việc bị “lẫn lộn” về nguồn gốc 12 con giáp, ông Thông cho rằng “Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá Trung Quốc, từ đời Hán và sau đó là  Đường, Tống... với sức ép của giai cấp thống trị từ phương Bắc tên 12 con vật tổ đã từ từ được thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá Trung Hoa hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ) trong đời sống người Việt”

Sự phát hiện mới mẻ này đã chứng minh cho sự phát triển của người Việt xưa trong cách tính lịch và làm nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ ở phía Nam Đông Nam Á.
 
Hà Tùng Long

Nhiều tấm lòng giúp đỡ bé 3 tuổi bị rơi vào nồi nước sôi

"Số tiền chúng tôi nhận được tuy chưa kiểm nhưng ước chừng cũng đã được khoảng hơn 100 triệu đồng. Nhờ có tiền mọi người cho mà tôi đã mua sữa bột cho cháu uống theo như lời khuyên của bác sỹ thay vì dùng sữa tươi như trước đây" - chị Tuyền, mẹ của cháu bé 3 tuổi bị bỏng do rơi vào nồi nước sôi ở Bình Định cho biết.
 
Đã bước qua ngày thứ 5, bé Lê Đại Lợi (3 tuổi) ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, nạn nhân trong vụ ngã vào nồi nước sôi hôm 21/1 được chuyển ra điều trị ở khoa Hồi sức tích cực của Viện Bỏng quốc gia. Tuy đã qua cơn nguy kịch song tình hình sức khỏe của bé vẫn hết sức yếu.
 
Từng giờ, từng phút những vết bỏng trên toàn thân thể hành hạ Lợi khiến bé đau đớn tột cùng, khóc ngặt lên từng cơn trong ánh mắt bàng hoàng, đỏ hoe của người mẹ trẻ.
 
 Lợi đang được mẹ cho uống sữa.
 
Lặng người tiếng khóc trẻ thơ
 
Trên chiếc giường chuyên dụng dành cho bệnh nhi bị bỏng, Lợi nằm bất động như một đứa trẻ sơ sinh. Toàn thân băng kín, trên khuôn mặt chỉ để hở mỗi đôi mắt và mũi, miệng. Mỗi lần thấy người lạ đến, đôi mắt cháu chỉ kịp nhấp nháy một cách yếu ớt rồi rồi khóc ngặt lên từng cơn trong đau đớn. Đôi mắt bần thần và thảng thốt vẫn không quên hướng về mẹ và khách như cầu cứu người lớn làm sao cho cháu hết đau.
 
"Mẹ ơi chon đau nhắm!", "Mẹ ơi, cứu chon, cứu chon..". Mỗi lần thấy con khóc, người mẹ đứng kế bên lại nước mắt giàn dụa nhưng cũng chỉ bất lực đứng nhìn con chứ không làm gì được.
 
Vừa lau nước mắt, chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền mẹ của cháu bé cho biết: "Cũng may nhà ở ngay trung tâm thành phố Quy Nhơn nên cả hai bố con đã được sơ cứu kịp thời. Tuy nhiên, do cháu bị bỏng nặng, trên toàn thân chỉ trừ mỗi đôi chân còn không chỗ nào là không bị trầy da, mà phương tiện và kỹ thuật ở bệnh viện địa phương không đủ hiện đại để chạy chữa nên gia đình đã quyết định đưa cháu ra đây dù hoàn cảnh gia đình lúc đó cực kỳ khó khăn" - chị Tuyền cho biết.
 
Cũng theo chị Tuyền thì mấy ngày nay Lợi vẫn sốt cao, nằm bất động ở một tư thế. Đêm đến cháu ngủ được rất ít vì các vết thương liên tục hành hạ. Cháu liên tục kêu ngứa, kêu đau. Thấy con khóc nhưng mẹ không dám động vào vì chỉ cần chạm nhẹ vào người cháu là cháu lại khóc thét lên vì đau đớn. Mỗi ngày, các bác sỹ thay băng cho cháu một lần nhưng phải gây mê mới thay nổi.
 
"Mấy hôm mới ra, mỗi ngày cháu chỉ uống được rất ít sữa tươi nhưng tôi không dám cho cháu ăn vì chỉ cần nhai là cháu lại đau. Đến nay thì cháu đã uống được sữa bột theo lời khuyên của bác sỹ với hàm lượng lớn hơn rồi" - chị Tuyền chia sẻ.
 
Nhờ có tiền của các tấm lòng hảo tâm, chị Tuyền đã cho cháu Lợi uống bằng sữa bột thay vì sữa tươi như trước đây.
 
Một tuần liền thức trắng cùng con
 
Theo chị Tuyền, từ ngày Lợi bị tai nạn đến giờ chị không thể chợp mắt nổi quá ba tiếng đồng hồ một ngày, một phần vì lo lắng, một phần vì thương con. "Mặc dù có cả chị gái chồng cùng ra để thay nhau đỡ đần, chăm sóc cháu nhưng cứ tối nằm ngoài vỉa hè bệnh viện mà thấy con khóc tôi lại giật mình chạy vào" - chị Tuyền cho hay.
 
Dù đã được đặt nằm cách ly trong một phòng riêng nhưng Lợi vẫn phải luôn có người bên cạnh để theo dõi nhiệt độ cơ thể. Cũng theo chị Tuyền thì hiện bố của Lợi vẫn đang phải nằm điều trị trong bệnh viện Quy Nhơn do bị bỏng một số chỗ. Anh trai của Lợi mới 8 tuổi thì phải gửi nhờ ông bà nội trong nom. Từ ngày chị ra Hà Nội đến giờ vẫn chưa thể gọi điện về nhà để hỏi thăm sức khỏe của chồng vì chị không dám rời con nửa bước.
 
"Mấy ngày nay, các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và cá nhân sau khi nghe được thông tin cháu bị tai nạn đã tìm đến chia sẻ và ủng hộ cho cháu rất đông. Mỗi ngày có hàng trăm người tìm đến thăm cháu. Số tiền chúng tôi nhận được tuy chưa kiểm nhưng ước chừng cũng đã được khoảng hơn 100 triệu đồng. Nhờ có tiền mọi người cho mà tôi đã mua sữa bột cho cháu uống theo như lời khuyên của bác sỹ thay vì dùng sữa tươi như trước đây" - chị Tuyền cho biết thêm.
 
Bác sỹ Trần Đình Hùng - người trực tiếp theo dõi và điều trị cho cháu Lợi, cho biết: "Hiện cháu Lợi đã qua giai đoạn sốc bỏng đang trong giai đoạn nhiễm trùng. Giai đoạn nhiễm trùng của cháu Lợi có thể sẽ phải kéo dài tới 3 tuần vì cháu bị bỏng rất nặng. Đây là giai đoạn rất nguy hiểm vì khả năng nhiễm trùng và nguy cơ tử vong cao. Lợi bị bỏng tới 60% toàn cơ thể. Nặng nhất là ở vùng đầu, ngực, tay, lưng và ở cơ quan sinh dục... Hiện cháu vẫn chưa qua khỏi tình trạng nguy hiểm".
 
 
Hà Tùng Long

“Đồng tính giả” của giới trẻ: Xu hướng đáng báo động

Chuyện một số teen lên các diễn đàn mạng để than vãn về việc nhiều bạn trong lớp mình đang "man" (nam tính) bỗng chốc thành "gay" đã không còn xa lạ với cư dân mạng. Theo một số chuyên gia tâm lí thì đây chính là hiện tượng "đồng tính giả" trong học đường. Nguyên nhân chính dẫn đến việc này là do bắt chước lẫn nhau để được khác người.
Đang “chàng” bỗng chốc thành "cô"
 
Trên một diễn đàn mạng xã hội www.dau...net, một thành viên nữ giấu tên đã đưa ra câu hỏi "Tại sao bây giờ gay giả nhiều thế?" kèm theo những cảm nhận do chính cô nàng mắt thấy tai nghe: "Tôi có đứa bạn hay đùa với tôi rằng: trai đẹp thường chảnh, trai tử tế thì thường xấu, trai vừa đẹp vừa tử tế thì thường ... là gay. Thiệt tình tôi cũng không kỳ thị gì về các anh gay lắm nhưng nhiều khi thấy cũng hơi sốc.  Mấy anh chàng tôi quen hiện nay đa số đều sao sao ấy, riết rồi không thể phân biệt được giới tính luôn.
 
Nhiều chàng trai đang "man" bỗng chốc thành "gay" do muốn khác người.
 
Thường thì lúc mới quen, mấy anh này đều rất vui, tính tình tử tế, thoải mái... nhưng quen vài lần mấy anh có vẻ gì đó hơi lộ liễu, thậm chí có lần còn mượn thỏi son bóng của tôi để tô trước khi vào Diamond Plaza (Tp. HCM - PV) tôi thật sự choáng. Tôi gặng hỏi thì các anh ấy vẫn một mực khẳng định họ không phải là gay nhưng cứ với cái kiểu cách điệu đà, quần áo chăm chút, mặt mũi láng bóng... thậm chí trong lớp hỏng bóng đèn mấy anh chàng cũng lóng ngóng không biết cách sửa, leo lên cầu thang để sửa thì sợ té, sợ dơ đồ... Đi vào các trung tâm thương mại thì lôi trong cặp ra con gấu teddy, kè kè, chụp hình thì phùng mang trợn má thật dễ sợ.
 
Những anh chàng đỏm dáng.  (Ảnh minh họa)
 Là thế hệ trẻ và đọc qua nhiều sách báo có nói về vấn đề đồng tính, tôi hoàn toàn thông cảm cho các anh chàng ở thế giới thứ ba, và vốn dĩ vẫn sống bình đẳng với họ. Nhưng tôi kịch liệt lên án các cậu nào là con trai mà cứ điệu đà giả gay, hoặc chí ít cứ trôi theo trào lưu làm gay".
 
Chủ đề này đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các thành viên trong mạng cộng đồng này và một cuộc bình luận sôi nổi đã diễn ra. Nhiều thành viên nằm trong độ tuổi teen, đang là học sinh cấp III hoặc sinh viên đều cho rằng hiện tượng này đang dần trở nên phổ biến trong lớp học của mình. Đại đa số những anh chàng này lúc đầu đều là những boy (chàng trai) rất manly (nam tính) và hết sức bình thường. Thậm chí nhiều người còn là những cầu thủ xuất sắc của lớp.
 
Thành viên boysexy9xx (học sinh lớp 12) cho biết, lớp cậu có tất cả 48 bạn trong đó có 21 bạn nam. Các bạn nam trong lớp đều là những bạn đã học với nhau từ năm lớp 10 nên ai cũng biết rõ về nhau. Tuy nhiên lên đến lớp 12 thì một số bạn nam đang hết sức bình thường bỗng chốc biến thành những người ẻo lả, điệu đà, yếu ớt... và bị các bạn trong lớp trêu là gay. "Nhiều bạn thậm chí còn để tóc dài, uốn tóc xoăn, sơn móng tay, vào lớp thì xịt nước hoa đến nức mũi...làm gì cũng sợ bẩn. Họ thường đi chung với nhau một nhóm riêng và đều điệu đà giống nhau nhưng không ai thừa nhận mình là gay vì họ không có tình cảm với những người cùng giới...".
 
Vì sao một số teen thích làm gay giả?
 
Thành viên có nick name "boiteotoet" trong forum www. 4rum.hn....info cho rằng hiện tượng này chỉ mới nổi lên trong một thời gian gần đây. "Hiện tượng này chỉ mới nổi lên trong hơn một năm trở lại đây do một bộ phận nam sinh và du học sinh đua đòi rồi lan truyền cho nhau. Đã có lúc họ coi đó như một thú chơi, ai muốn được coi là "play rân" (dân chơi) thì đều phải có cái thú này. Điều đáng nói là các cô các cậu này là những cô gái chàng trai mới ở độ tuổi còn rất trẻ, chỉ từ 16 đến 17 rồi đến 18, 9x và 10x cũng bắt đầu tham gia"
 
Thành viên này còn cho biết cậu từng chứng kiến hàng loạt bức ảnh "nóng" của một số chàng trai chụp chung với các bạn "gay giả" của mình trên một blog và đã gây xôn xao cộng động mạng không kém gì "trận thắng đầy may mắn của MU trước Chelsea" trong thời gian gần đây.
 
Lý giải về hiện tượng này, một thành viên tên Phong ở diễn đàn www.thegioi...com cho rằng nguyên nhân dẫn đến việc này chính là do các bạn còn quá trẻ bị cám dỗ bởi những điều mới lạ mà không ý thức được hậu quả khôn lường về sau nên mới bắt chước làm theo. Những điều mà các bạn làm hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của các bậc phụ huynh do đó không nên đổ lỗi cho người lớn.
 
Tuy nhiên, thành viên mang nick name "boichiuchoi_ksomuaroi" trên diễn đàn www.tinhyeutrai...com lại cho rằng nguyên nhân dẫn đến việc này đó là do "điều này rất dễ lý giải, vì teen ngày nay tiếp xúc với Internet, truyền thông nhiều, đặc biệt là những hình ảnh của thế giới thứ ba nhan nhản trong cuộc sống, trên phim ảnh... nên dễ dàng ngộ nhận về bản thân mình. Suy cho cùng đây là một thói quen không tốt gây ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh của bản thân mình, gia đình mình và cả bạn bè mình nữa".
 
Đại đa số các thành viên trên các diễn đàn đều có chung quan điểm, hiện tượng gay giả là một sự bắt chước lẫn nhau chứ không hoàn toàn thuộc về bản chất. Những hành động này bản thân người trong cuộc đều ý thức rõ nhưng họ vẫn làm theo vì không suy nghĩ tới hậu quả. Tuy nhiên, chính điều này càng làm cho các bạn trong lớp học rất bối rối vì không biết phải đối xử với họ như thế nào cho đúng mực.
 
Nguy hiểm hơn, từ những thói quen giả gay này nhiều bạn tuổi teen dần đi vào ngộ nhận mình là như thế và biến mình thành một con người khác hoàn toàn với giới tính thật của  mình.
 
Cũng theo một số bạn sinh viên ở một số diễn đàn thì trong một số trường đại học đã từng xảy ra hiện tượng nhiều bạn nam giả gay để làm trai bao, kiếm tiền. Những bạn nam này đã cố tình biến mình thành một chàng gay hòng "câu" các chàng gay giàu có bao mình làm ảnh hưởng rất lớn đến những người thuộc thế giới thứ ba. Bên cạnh đó cũng có nhiều người do muốn trốn chạy tình yêu nên giả biến mình thành gay để người yêu xa lánh mình.
 
Thu Hương - 22 tuổi (ĐH dân lập Phương Đông) cho biết, bạn thân của cô từng phải đóng giả làm gay trong một thời gian dài để cô bạn gái cùng lớp "xấu xí" buông tha cho cậu. Cậu đã phải chọn cách ẻo lả như một cô gái và thường hay giả vờ ve vãn các nam sinh trong lớp trước mặt cô bạn gái đó để cô hiểu nhầm anh chàng này là gay. "Giả gay" còn được xem là một trong những chiêu hay được các "Sở Khanh" sinh viên dùng tới nhất do lỡ "ăn bánh" nhưng  không muốn "đổ vỏ" nên tìm cách này để lừa người yêu.
 
Hành động sai lệch cần uốn nắn sớm

 
TS tâm lý Vũ Gia Hiền cho rằng, hiện tượng "giả gay" là một hiện tượng rất phức tạp vì sẽ rất khó xác định được đâu là giả, đâu là thật nếu không có cả một quá trình theo dõi lâu dài. Tuy nhiên, có thể khẳng định đây là một hiện tượng đang có xu hướng phổ biến trong giới trẻ.
 
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được bắt nguồn từ rất nhiều lý do khác nhau, trong đó bắt chước nhau để được khác người là một trong những nguyên nhân chính. Đây là một hành động sai lệch cần phải có cảnh báo nếu không sẽ gây nên nhiều hậu quả đáng tiếc vì đa số các em đều không ý thức được những hành động của mình. Điều đáng nói là từ chuyện chỉ "giả" thôi nếu để lâu ngày và không có sự điều chỉnh hành vi thì có thể dễ dàng bước qua ranh giới của "thật" mà khó lường trước được. Các bậc phụ huynh, thầy cô và đặc biệt là các bạn cùng trang lứa cần nên có những động viên, khuyên nhủ khi thấy con em mình, bạn bè mình có xu hướng như thế.
Hà Tùng Long

Nở rộ dịch vụ đổi tiền lẻ trước Tết

Tết Nguyên đán tới gần, nhu cầu đổi tiền lẻ, tiền mới để chuẩn bị cho việc đi lễ chùa và lì xì ngày Tết ngày càng nhiều.
 
Dịch vụ đổi tiền cũng được đà ăn theo, nở rộ ồ ạt để phục vụ nhụ cầu của các “thượng đế”. Tuy nhiên, trong khi chính một số ngân hàng cũng đang khát tiền lẻ, tiền mới thì ở ngoài chợ đen, “thượng đế” muốn bao nhiêu cũng có.
 
Đau đầu vì tiền lẻ, tiền mới

Nhiều “thượng đế” phải ngậm ngùi đổi tiền ngoài thị trường với mức phí cắt cổ.
 
Theo thói quen, vào những ngày lễ Tết đầu năm ai cũng muốn có một ít tiền mới để bỏ vào các phong bao lì xì mừng tuổi cho các cháu nhỏ lấy may đầu năm hoặc tiền lẻ với mệnh giá thấp để đi lễ chùa. Bởi thế vào những ngày cận Tết, chuyện nhà nhà, người người... đua nhau đi đổi tiền lẻ, tiền mới đã trở thành một "quy luật" bất biến. Tuy nhiên, lượng tiền lẻ, tiền mới do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành vào những tháng cuối năm có hạn nên hiện tượng "khát" tiền lẻ, tiền mới vẫn xảy ra triền miền vào các dịp cận Tết.

Loại tiền mà các "thượng đế" cần nhất là những tờ tiền mới có mệnh giá 200, 500, 1.000, 2.000, 5.000, 10.000, 20.000 đồng.
 
Nhu cầu đổi tiền lẻ, tiền mới càng cận Tết càng tăng cao.

Anh Lê Thế Dân (Hào Nam, Hà Nội) cho biết, vào mỗi dịp Tết, ngoài việc chuẩn bị các thứ thực phẩm để vui xuân thì gia đình anh, ai cũng sốt sắng với khoản tiền lẻ mừng tuổi và đi lễ chùa. Anh Dân nói: "Thực phẩm không mua trước thì mua sau, không mua chỗ này đi mua chỗ khác. Riêng khoản tiền lẻ, tiền mới cho cả gia đình hai bên mừng tuổi và đi lễ chùa bao giờ cũng làm vợ chồng tôi đau đầu nhất. Cả công ty tôi ai cũng đang mong ngóng sẽ được nhận lương cuối năm bằng tiền mới, tiền lẻ".

Riêng chị Trịnh Thị Thúy Vân (Kim Mã Thượng, Hà Nội) là thủ quỹ của một ngân hàng dù không có nhu cầu nhiều về tiền lẻ, tiền mới nhưng bao giờ cũng trong tình trạng "khát" tiền vì những người xung quanh nhờ đổi hộ. "Vợ chồng nhiều lúc bất hòa cũng chỉ vì thứ tiền này. Thực sự đến những ngày Tết là tôi bị áp lực ghê gớm, chỉ mong trên Ngân hàng Nhà nước người ta dội về toàn tiền lẻ, tiền mới thôi", chị Vân than thở.

Với những người theo hầu đồng thì tiền lẻ, tiền mới để lì xì, đi lễ chùa tuy nhiều nhưng không đáng kể bằng lượng tiền cần cho việc lên đồng. Tiền dùng trong các lễ hầu đồng bắt buộc phải toàn tiền mới với đủ các mệnh giá từ cao tới thấp. Một "cô" đồng trẻ ở đền Đại Lộ (Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội) cho biết, không tính tiền đặt ở các ban, các bệ thờ các thánh, chỉ riêng lượng tiền lộc phân phát cho các con nhang, đệ tử trong mỗi giá đồng cũng có khi lên tới hàng chục triệu đồng. Do đó, vào những dịp cuối năm các con nhang, đệ tử liên tục kéo nhau về đền xin được đổi tiền lẻ trước để ra năm làm lễ. Tiền lẻ, tiền mới do đó còn quý hơn cả vàng mười.

Từ đổi tiền ngoài đường đến đổi tiền trên mạng

Các dịch vụ đổi tiền cũng nhanh chóng được hình thành để thỏa mãn nhu cầu của “thượng đế”.
 
Khi nhu cầu đổi tiền lẻ, tiền mới trở thành một nhu cầu cấp thiết thì đồng thời, các dịch vụ đổi tiền cũng nhanh chóng được hình thành để thỏa mãn nhu cầu của "thượng đế".

Thời điểm này, tại một số điểm ở Hà Nội như phố Tràng Tiền (góc cửa hàng Bách hóa), cổng Bưu điện Hà Nội, phố Đinh Lễ, phủ Tây Hồ, chùa Hà, phố Quang Trung (Hà Đông)... các dịch vụ đổi tiền lẻ, tiền mới đã hoạt động nhộn nhịp. Mỗi ngày có tới hàng chục "đầu nậu" tay mang từng túi tiền lẻ nặng trịch ngồi hai bên đường để săn đón các "thượng đế" đến đổi tiền.
 
Biển hiệu của một dịch vụ đổi tiền ở phố Thái Thịnh.

Mức giá đổi tiền phổ biến hiện nay ở những khu vực này đều có mức sàn chung giống nhau. Tiền mệnh giá 200, 500 đồng đổi 10 "ăn" 7 (tức là đổi 1 triệu đồng tiền chẵn thì sẽ phải mất 300.000 đồng tiền phí), tiền mệnh giá 1.000 đồng đổi 10 "ăn" 7,5 (có nơi "ăn" 8), tiền mệnh giá 2.000 đồng đổi 10 "ăn" 8 và tiền 5.000, 10.000 đồng đổi 10 "ăn" 8,5... Tuy nhiên, không phải cứ đổi tiền là sẽ nhận được tiền mới hoàn toàn mà ở một số chỗ như phủ Tây Hồ, chùa Hà... trong những cọc tiền mới vẫn có xen kẽ 1/3 tiền cũ và khách hàng buộc phải chấp nhận với điều đó vì "ở đây chỗ nào cũng thế".

Một "cò" đổi tiền lẻ, tiền mới trước cổng Bưu điện Hà Nội tiết lộ, tiền lẻ mà các "đầu nậu" đang có để đổi cho khách hàng là số tiền lẻ còn tồn đọng từ năm ngoái, chỉ một số ít là có "mối" quen trong các ngân hàng tuồn ra. Ngoài ra cũng có một số người do có mối quan hệ đặc biệt với các cửa đền, cửa chùa nên họ góp nhặt được lượng tiền lẻ đáng kể để đổi lại.

Một số "đầu nậu" đổi tiền còn cho rằng mức phí đổi tiền năm nay sẽ cao hơn năm ngoái rất nhiều vì lượng tiền lẻ mà Ngân hàng Nhà nước năm nay phát hành ít hơn năm ngoái.

Không chỉ tập trung ở một số điểm cố định, dịch vụ đổi tiền lẻ còn tràn lan trên các trang rao vặt hoặc trên một số diễn đàn mạng. Trên mạng www.rao....vn, www.vat...vn, www.hanoicity.jao...com, www.en...com... không khó để bắt gặp được những lời rao: "Hiện nay tôi đang có các loại tiền có mệnh giá 200, 500, 1.000, 2000, 5000, 10.000 (tiền giấy) và 10.000, 20.000 (tiền polime), ai có nhu cầu đổi thì liên hệ theo số điện thoại 09154xxxx gặp C.Q. Cụ thể như sau: tiền 10.000 đổi 10 ăn 9,5, loại 5k, 1k, 2k (5000, 1000, 2000) đổi 10 ăn 9, loại 500 đổi 10 ăn 8". Đảm bảo rẻ hơn trên thị trường. Với số lượng nhiều sẽ mang đến tận nơi và có giá ưu đãi" hoặc "Bạn nào có nhu cầu đổi tiền mới liên hệ với tôi nhé :09367xxxx, mình có các loại tiền từ 200d (200 đồng), 500d (500 đồng), 1k (1000 đồng), 2k (2000 đồng), 5k (5000 đồng), 10k (10.000 đồng), 20k (20.000 đồng), 50 k (50.000 đồng). Uy tín chất lượng"... Theo lời rao trên mạng, chúng tôi tìm đến một cửa hàng nằm trên phố Thái Thịnh (Hà Nội). Chủ cửa hàng ở đây là một nữ thương gia buôn vải kiêm cả dịch vụ đổi tiền lẻ, tiền mới. Trước cửa hàng có trưng một tấm biển rất to "Đổi tiền lẻ - tiền mới" và ở dưới là số điện thoại của chủ nhân. Lảng tránh rất khéo câu hỏi của phóng viên về nguồn "hàng" có được, chủ nhân của quán khẳng định chắc nịch rằng luôn có đủ số lượng tiền với các mệnh giá khác nhau để cung cấp cho những ai có nhu cầu đổi.

Liên hệ với một số ngân hàng như VIP bank, Vietinbank, Vietcombank... trên địa bàn Hà Nội, các ngân hàng đều cho rằng tiền lẻ, tiền mới ở các ngân hàng hiện nay đều chưa có nhiều. Chủ yếu là lượng tiền ngân hàng dự trữ để trả cho khách trong quá trình giao dịch. Còn nguồn tiền mới từ Ngân hàng Nhà nước dội về phải đến những ngày cận Tết mới có. Câu hỏi đặt ra là, nguồn tiền lẻ, tiền mới khổng lồ mà các "đầu nậu" thị trường đang có để trao đổi, lấy từ đâu?
 
Hà Tùng Long

Bộ sưu tập tranh thờ Đạo giáo của người thợ mộc

Mê sưu tầm tranh thờ Đạo Giáo của các dân tộc thiểu số song chưa một lần Phạm Đức Sĩ (còn gọi là Sĩ “Mộc”) đặt chân đến các vùng có những bức tranh ấy. Đó là chuyện “ngược đời” mà chỉ có Sĩ “Mộc” mới làm được.
Để rồi nhìn vào hơn 350 bức tranh thờ có một không hai sau 10 năm anh ròng rã sưu tầm ai cũng thán phục về sự kỳ công và lạ mắt.
 
Phạm Đức Sĩ đang nói chuyện với một người bạn nước ngoài trong buổi triển lãm tranh thờ.
 
Làm mộc bén duyên tranh thờ

Gặp Phạm Đức Sĩ vào một buổi tối mùa đông mưa lất phất trong một quán cà phê trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội), gần căn nhà bốn tầng khang trang của bố mẹ vợ mà gia đình anh đang ở. Lúc chúng tôi đến thì anh đang mải mê lần giở từng trang, cuốn sách “Tranh thờ Việt Nam” do anh chủ biên sau 10 năm nhọc nhằn nghiên cứu, tìm hiểu, sưu tập.

Nhìn vào những gì anh Sĩ sưu tầm, tìm kiếm và kỳ công hệ thống, nhà phê bình mỹ thuật – Phan Cẩm Thượng nhận xét: “Bộ sưu tập tranh thờ với hơn 350 bức tranh này là kết quả của gần 10 năm lặn lội, tìm hiểu, mua được bằng những gì mình thích và học những vốn liếng văn hóa dân tộc chỉ qua kinh nghiệm sưu tầm… Cả ý thức văn hóa và quá trình lao động nuôi mình, nuôi gia đình của một người hoàn toàn chỉ là thợ mộc, chưa qua đại học thật đáng trân trọng. Nhất là bộ sưu tập của anh có hệ thống, có thể tiến hành nghiên cứu đời sống tín ngưỡng, văn hóa, tập tục và lịch sử của nhiều tộc người, tất nhiên là cả giá trị thẩm mỹ”.
Bên tách cà phê ngút khói, Đức Sĩ bắt đầu câu chuyện với chúng tôi bằng cái tên Sĩ “Mộc” quen thuộc nhưng cũng lắm chuyện ly kỳ mà giới sưu tầm nghệ thuật Hà Thành vẫn hay truyền tai nhau.

Anh Sĩ cho biết, vào những năm cuối của thập niên 90, trường Đại học Mỹ Thuật Hà Nội luôn cần một người đóng khung tranh, làm bục tượng cho các bài thi tốt nghiệp và các triển lãm tổ chức thường xuyên, mặc dù đã có rất nhiều người “đăng kí” xong không ai đạt được yêu cầu do trường đề ra. Anh Sĩ lúc đó chỉ là một tay thợ mộc mới vào nghề xong thấy hứng thú với những công việc đó nên cũng mạnh dạn “ứng thí”, làm thử một vài tác phẩm không ngờ lại đạt và bén duyên luôn. Cái tên Sĩ “Mộc” nhanh chóng “nổi như cồn” khi nền hội họa Việt Nam phát triển mạnh mẽ vài năm sau đó nhờ những tác phẩm chất lượng, thẩm mỹ, giá cả phù hợp. Đó cũng là tiền đề thuận lợi để anh Sĩ bước vào thế giới của niềm đam mê nghệ thuật.

Khởi đầu công việc sưu tầm của anh Sĩ là những tác phẩm gốm Đông Sơn và gốm Hán. “Thời đó, tôi và hai người bạn  nữa là anh Nguyễn Linh (SN 1959), Trần Hạnh (SN 1972) cùng chung sở thích sưu tầm đồ gốm. Dù chưa một lần nói rõ với nhau rằng mỗi người nên sưu tầm một thể loại riêng để tránh trùng nhau nhưng cả ba đều ngầm hiểu rằng mỗi người nên sưu tầm một thứ đồ gốm của riêng mình. Nếu tôi sưu tầm gốm Đông Sơn và gốm Hán thì Nguyễn Linh sưu tập gốm Lý Trần còn Trần Hạnh sưu tập gốm men lam. Cũng chính gốm đã bắt duyên cho cả ba chúng tôi bước sang lĩnh vực tranh nghệ thuật truyền thống” – anh Sĩ cho biết.

Trong những lần lặn lội về tận các rẻo cao, các làng quê cổ để sưu tầm đồ gốm Trần Hạnh vô tình “góp nhặt” được những bức tranh thờ của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Thấy đẹp anh Hạnh sưu tầm được khoảng vài chục bức mang về nhà nhưng vẫn chưa thực sự có chủ đích gì với những bức tranh ấy. Một lần qua nhà bạn chơi, thấy có những bức tranh loang lổ vết thời gian nằm ngổn ngang trên sàn nhà nên anh Sĩ dở ra coi thì bị mê hoặc. Những vị thần huyền bí được thể hiện qua những nét vẽ nghệ thuật và những màu sắc hết sức sống động đã làm anh bị ám ảnh trong một thời gian dài. Lập tức anh đề nghị bạn nhượng lại những bức tranh ấy cho mình và ra ngay các tiệm sách để tìm các tài liệu có nói về tranh thờ Đạo giáo về nghiên cứu. Anh Sĩ chia sẻ: “Tài liệu nói về tranh thờ ở Việt Nam cực hiếm bởi không có nhiều người đi sâu vào nghiên cứu. Duy chỉ có tác phẩm “Tranh thờ Đạo Giáo ở Bắc Việt Nam” của nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Khuê là có gần như đầy đủ các tập tục, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc Việt Nam ở phía Bắc nhưng lại đọc khá vất vả. Đôi lúc để hiểu được một vấn đề ông muốn nói có khi phải suy nghĩ hàng tuần mới luận ra. Nhưng càng đọc tôi lại càng thấy say mê bởi những điều tôi phát hiện ra cực kỳ lí thú”.
 
Bộ tranh thờ "Hữu bà môn, Tả bà môn" của người Sán Dìu.

Bán cả xe máy để mua tranh

Đam mê sưu tầm tranh thờ Đạo Giáo của các dân tộc xong anh Sĩ lại chưa một lần đặt chân đến các vùng có những bức tranh ấy, đó là một điều “ngược đời” mà khi nghe anh Sĩ thú thực ai cũng phải ngạc nhiên.

Anh kể, tranh thờ đối với người dân tộc là một thứ tài sản hết sức quý giá bởi nó chứa đựng những niềm tin tôn giáo lớn lao. Nếu không phải là người thân quen, người được tin tưởng thì không bao giờ họ chịu mở ra cho xem chứ không nói đến chuyện bán lại. Chính vì thế mà anh không tự mình đi tìm bởi anh biết mình không đủ khả năng thuyết phục họ cho mình xem tranh hay nhượng lại tranh cho mình nên thông qua người bạn là anh Trần Hạnh, anh cứ thế bắt đầu sưu tầm được những bức tranh hết sức giá trị. Một thời gian sau, lần mò tìm hiểu anh biết được có một số người ở phố cổ hay lên miền ngược lấy hàng thổ cẩm về bán, anh lại tìm đến và đặt vấn đề về việc tìm hộ anh những bức tranh thờ Đạo Giáo. Cứ như thế số lượng những bức tranh của anh Sĩ ngày càng tăng dần.

Trên đường dẫn chúng tôi về nhà để được tận mắt chiêm ngưỡng hơn 350 bức tranh thờ của một số dân tộc như: Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Dáy, Kinh... anh Sĩ cho biết thêm: “Hệ thống thần linh của Đạo Giáo vốn đã rất phong phú và phức tạp, hệ thống thần linh của riêng từng dân tộc lại càng độc đáo và phức tạp hơn. Nếu không chịu nghiên cứu tài liệu thì những bức tranh sưu tầm sẽ rất lộn xộn và không có giá trị gì ngoài mớ giấy vẽ có màu mà thôi”.

Sau 10 năm vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu, kể cả những kinh nghiệm được đánh đổi bằng những trải nghiệm “đau thương” anh Sĩ đã tìm ra cho mình một cách hệ thống các bức tranh thờ theo một logic thống nhất. Nghĩa là sắp xếp những bức tranh này theo đúng tín ngưỡng thờ cúng thần linh của các tộc người nhưng khi nhìn vào người xem vẫn dễ dàng nhận ra được những giá trị thẩm mỹ cũng như sự khác biệt những bức tranh. Đặc biệt là hiểu hơn về văn hóa tâm linh của các tộc người thiểu số ở vùng núi phía Bắc.

Cũng theo anh Sĩ thì trong số hơn 350 bức tranh thờ hiện nay, bộ tranh thờ của người Dao gồm 18 tờ tranh, tờ ngắn nhất là 80cm, tờ dài nhất là 1,3m là giá trị nhất về mặt thời gian, nghệ thuật lẫn kinh tế. Thông qua lạc khoản đề trên mỗi bức tranh thì bộ tranh thờ của người Dao mà anh Sĩ đang sở hữu có niên đại trên 200 năm. Những bức tranh này do một số thầy mo người Dao đặt cho nghệ nhân Trung Quốc vẽ. Để có được bộ tranh này vào năm 2001 anh đã phải bán cả chiếc xe máy Dream để mua vì giá của nó tới 18 triệu đồng.

Ngoài ra, hai bộ tranh của người Sán Dìu với mỗi bộ có tới 32 tờ và bộ của người Cao Lan Sán Chỉ với 26 tờ cũng được xem là “hàng độc” mà giữa Hà Thành khó có thể tìm ra bộ thứ hai.

Trung tuần tháng 10/2009 vừa qua, anh Sĩ đã mở một số buổi triển lãm tại Trung tâm VietArt ở phố Yết Kiêu (Hà Nội) để mọi người có cơ hội được tận mắt chứng kiến những bức tranh thờ có một không hai của anh. Hiện anh đang có ý định sẽ đưa những bộ tranh thờ này sang Mỹ, vì bên đó có Bảo tàng Đông Nam Á để bạn bè thế giới biết rõ hơn về nền văn hóa tín ngưỡng đa sắc màu và hết sức độc đáo của các dân tộc Việt Nam.
 
Hà Tùng Long

Lạ lùng bệnh một ngón

Từ lúc mới sinh ra, cậu bé Nguyễn Duy Đạt (11 tuổi) ở Hoàng Đông, Duy Tiên, Hà Nam đã mắc chứng rất lạ: Mỗi bàn tay, chân đều chỉ có một ngón. Tuy vậy, bằng nghị lực phi thường của một đứa trẻ, Đạt đã khiến bạn bè cùng trang lứa phải nể phục về một thành tích học tập và tài vẽ tranh hiếm thấy.
Chứng bệnh kỳ lạ
 
Vừa bước qua con đường đất gồ ghề với rặt những đá đầu nhọn chi chít trên bề mặt, đang định cất lời hỏi thăm nhà cậu bé Nguyễn Duy Đạt “một ngón” thì có một cậu bé phóng xe đạp qua. Hơi bất ngờ nhưng chúng tôi nhận ra ngay đó chính là Nguyễn Duy Đạt bởi nhìn kỹ trên mỗi bàn tay, bàn chân của cậu bé đều chỉ có một ngón duy nhất. Sau khi biết chúng tôi là phóng viên cậu bé vui vẻ quay đầu xe lại và  dẫn chúng tôi về nhà.
 
Bố của Đạt, ông Nguyễn Hữu Tiến cũng chỉ có một ngón tay, ngón chân duy nhất.
 
Trước căn nhà hai gian lụp xụp, mẹ Đạt đang lúi húi đan giỏ mây. Thấy khách vào bà bỏ dở việc đang làm chạy ra mở cửa, niềm nở đón tiếp. Bà Nguyễn Thị Thỉnh (55 tuổi) – mẹ của Đạt cho biết, bà lấy bố Đạt khi đã cận kề tuổi tứ tuần. Trước đó bố Đạt đã có một đời vợ và 7 người con gái. Do bà cả yểu mệnh, “về với ông bà” sớm nên khi có người mai mối, thương ông cảnh gà trống nuôi con mà bà về ở với ông. “Lúc đầu cứ nghĩ rằng chỉ về ở với nhau để đỡ đần nhau lúc tuổi già sức yếu nào ngờ được vài năm sau thì tôi có thai cháu Đạt” – bà Thỉnh thật lòng kể.
 
Hai bàn chân của Đạt chỉ có một ngón duy nhất.
Khi Đạt vừa ra đời, biết là con trai bà vui mừng khôn xiết. Và càng vui hơn khi các bác sĩ lúc đó động viên “thằng cu này giống mẹ nó như đúc”. Quá mệt, bà thiếp đi trong niềm hạnh phúc vô bờ nhưng khi tỉnh dậy thì mọi chuyện lại hoàn toàn đổi khác. “Lúc mở mắt, tôi nghe loáng thoáng hai cô cậu sinh viên thực tập đang thì thầm với nhau rằng “thằng bé này lạ thật, cả tay, cả chân mỗi bàn chỉ có một ngón duy nhất”. Tôi nghe xong bàng hoàng tột độ, không muốn khóc mà nước mắt cứ trào ra...”. Nhưng có lẽ vì thấu hiểu nỗi khổ đau của bố mẹ nên từ hồi nhỏ Đạt đã rất ngoan, dường như không ốm đau gì nặng từ lúc sinh ra cho đến tận bây giờ.
 
Cầm hai bàn tay của Đạt, tôi có cảm giác như em phải nghị lực lắm mới làm được những công việc của một người bình thường. Mỗi bàn tay chỉ dài khoảng 6cm và ngón tay duy nhất là ngón út cũng chỉ dài 4cm. Mỗi bàn chân cũng chỉ có một ngón út dài 3cm, chiều dài từ gót chân đến đầu bàn chân chỉ vỏn vẹn có 14cm mà thôi. Nếu nhìn qua, người ta có cảm giác như em chỉ có một nửa bàn tay, bàn chân chứ không phải là cả bàn.
 
Di truyền(?)
 
Đang ngồi trò chuyện trước sân thì ông Nguyễn Hữu Tiến - bố Đạt ở đâu đi về. Thấy khách lạ, ông giấu vội hai bàn tay của mình vào hai bên chiếc áo măng tô san màu sữa mà ông đang mặc nhưng dường như cái dáng điệu khập khểnh, bước đi khó nhọc của người chỉ có duy nhất một ngón chân đã khiến ông không thể giấu hết được.
 
Trò chuyện một lúc lâu, ông mới chịu cởi lòng tâm sự, nhà ông có 6 chị em, trong đó có 3 trai, 3 gái. Ba chị gái và cậu em trai kế ông lúc sinh ra đến bây giờ vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường. Riêng ông và người em trai út không hiểu vì sao lại mắc chứng một ngón trong khi bố mẹ, ông bà nhà ông đều bình thường.
 
“Lúc tôi mới sinh ra, khi nhìn thấy con trai quá “dị thường”, khi đó còn thiếu hiểu biết, làng xóm lại dị nghị cho rằng có chuyện ma quỷ, nên bố tôi đã chôn sống tôi hai lần. Cả hai lần tôi đều được người mẹ khốn khổ của tôi lao vào cứu. Không chôn sống được, bố tôi lại bỏ đói không cho tôi ăn uống mấy ngày liền nhưng có lẽ số mệnh tôi cao nên dù bị bỏ đói tôi vẫn sống. Thế rồi khi sinh chú thứ hai bình thường nhưng sinh chú út thì bất hạnh thay lại mắc chứng một ngón như tôi khiến ông đâm ra trầm cảm. Ông ít nói năng, ít tiếp xúc với mọi người xung quanh hơn. Trách ông nhưng tôi rất thương ông vì đó là nỗi đau quá lớn mà một người cha như ông phải chịu” – ông Tiến chia sẻ.
 
Hằng ngày bà Thỉnh - mẹ Đạt phải đan thuê để lấy tiền nuôi con.
 
Lúc sinh thời, mẹ ông Tiến cũng từng đưa hai anh em ông đi khắp các bệnh viện, thầy lang để tìm phương thuốc chữa trị nhưng tất cả đều bất lực. Nỗi đau của gia đình dần nguôi ngoai khi hai anh em ông đều cố gắng học hành, làm việc như những người bình thường. Ông đã cố học và thi đậu vào Đại học Ngoại ngữ để trở thành một trong những cử nhân đầu tiên của dòng họ.
 
Tưởng rằng đó là khuyết tật “tức thời” nhưng không ngờ nó lại một lần nữa dấy lên khi người vợ cả của ông sinh bốn cô con gái đầu đều khỏe mạnh nhưng đến cô con gái thứ 5 thì lại mắc chứng một ngón như ông. Nỗi đau càng dồn dập và thực sự trở thành nỗi lo lắng của cả dòng họ khi em trai ông sinh được hai cậu con trai thì cả hai cậu con trai đều mắc chứng một ngón giống bố.
 
Không hiểu vì sao gia đình, dòng họ nhà mình lại bị căn bệnh lạ lùng này, ông tìm đến rất nhiều bệnh viện, rất nhiều bác sĩ để hỏi nhưng không ai mang lại cho ông một lời giải đáp đích xác.
 
Thậm chí nhiều người trong họ cho rằng con cháu mắc tội với tổ tông nên gia đình ông đã làm một lễ cúng rất to nhưng bất hạnh vẫn giáng xuống khi ông lấy người vợ thứ hai và sinh ra Đạt cũng mắc chứng một ngón. Vì ông là con cả, Đạt lại là cậu con trai duy nhất của gia đình nên việc Đạt mắc bệnh này đã khiến ông hết sức lo lắng. Có thời điểm ông đưa Đạt lặn lội hết bệnh viện này đến bệnh viện khác hầu mong tìm ra phương cách chữa trị hoặc lắp ngón tay giả cho con nhưng tất cả đều vô vọng.
 
Cho đến nay, cô con gái thứ 5 của ông đã 36 tuổi, hai đứa cháu trai cũng đã ngoài 30 tuổi, nhưng cả ba không ai dám lập gia đình vì sợ căn bệnh này lại di truyền sang thế hệ con cháu. Giờ đã vào cái tuổi gần đất xa trời nhưng ông Tiến vẫn không khi nào nguôi ngoai được nỗi lo, căn bệnh quái ác này lại giáng xuống những thế hệ sau và điều đó với một dòng họ quả là quá sức chịu đựng.
 
Dù bị dị tật nhưng Đạt viết và vẽ rất đẹp.
 
Chưa tìm được cách chữa
 
Mải mê nói chuyện với bà Thỉnh, khi chúng tôi quay đầu lại thì Đạt đã gần hoàn thiện xong bức tranh “Sư tử đuổi chuột”. Nhìn cảnh cậu bé khó nhọc chụm hai ngón tay út nhỏ bé, tật nguyền của mình lại kẹp chặt một cây chì màu để đưa những nét vẽ đầy “đam mê” khiến chúng tôi phải trầm trồ, ngạc nhiên. Những nét vẽ của Đạt mềm mại, nhẹ nhàng và chuẩn xác không thua kém gì những nét vẽ của người bình thường. Cách tô màu của Đạt cũng rất riêng, màu sắc không chỉ tươi trẻ, khỏe khoắn mà còn có một chút gì đó rất mạnh mẽ, phi thường. Có lẽ đó cũng là cách để một cậu bé kém may mắn như Đạt gửi gắm vào bức tranh những khát vọng, ước mong thầm kín của mình.
 
Theo mẹ Đạt, mặc dù tay chân tật nguyền song Đạt rất khéo tay, làm được rất nhiều việc. Đạt rất đam mê vẽ và bộc lộ năng khiếu này từ rất sớm. Những bức tranh của Đạt không chỉ có các nhân vật hoạt hình mà còn có cả thế giới của muôn loài động vật, có cuộc sống thanh bình ở những làng quê và thành thị... Năm lớp 2, Đạt thay mặt trường tham dự cuộc thi vẽ của huyện. Bức tranh em vẽ cảnh mọi người đi chơi Tết, cảnh quê hương với đồng ruộng và cánh diều đã được ban tổ chức trao giải nhất.
 
Mặc dù hai bàn tay của Đạt chỉ có một ngón nhưng em có thể vẽ những bức tranh đẹp.
Đạt cho biết, lúc mới bắt đầu tập viết mỗi lần nhìn đến cây bút là cậu rất sợ. Sợ vì dù đã cố kẹp thật chặt cây bút nhưng nó vẫn “chạy linh tinh” không theo ý mình gì cả. Ngồi tập viết một lúc là hai ngón tay xưng tấy lên, đau điếng. Nhưng cũng chỉ một tuần sau là mọi việc trở nên dễ dàng hơn và nhìn thấy bút là Đạt lại muốn cầm lên để viết, để vẽ.
 
Năm nay Đạt đã học lớp 4. Trong bốn năm liền cậu bé đều là học sinh tiên tiến. Liên tiếp trong hai năm lớp 2 và 3, Đạt là một trong ba học sinh đại diện của lớp được mang vở chính tả đi thi vở sạch chữ đẹp của trường và đạt giải khuyến khích.
 
Những ngày đầu mới đi học, nhiều bạn ở lớp bên thấy hình dong của Đạt không bình thường nên rất hay trêu chọc khiến cu cậu mặc cảm, định bỏ học mấy lần. “Mấy lần đang giữa giờ học thì thấy con mặt mày lấm lem, nước mắt nước mũi giàn giụa chạy về nhà xin mẹ cho nghỉ học vì toàn bị các bạn trêu. Thương con tôi ôm con vào lòng nức nghẹn từng cơn. Cuộc đời tôi khổ thế nào cũng chịu được, chỉ mong con tôi được mọi người đối xử với nó bình thường như những người khác để cháu xóa bỏ mặc cảm, sống một cuộc sống tốt đẹp...” – mẹ Đạt chia sẻ.
 
Bỏ học được mấy ngày, rồi lại thấy nhớ trường, nhớ lớp, Đạt tự mình xóa bỏ mặc cảm đòi bố chở ra trường xin cô giáo học lại. Cũng từ đó bạn bè hiểu hơn về hoàn cảnh của Đạt nên không còn trêu chọc em nhiều như trước nữa.
 
Ngoài vẽ, Đạt cũng rất thích đá bóng ở vị trí thủ môn và hậu vệ. Hai bàn chân tuy teo tóp, vặt vẹo, chỉ có duy nhất một ngón nhưng trong trận đấu nào Đạt cũng nỗ lực hết mình để không thua kém bạn bè.
 
Chưa xác định được nguyên nhân

GS.TS. Nguyễn Thu Nhạn - Chủ tịch Hội nhi khoa Việt Nam nhận định: Những hiện tượng dị tật bẩm sinh ở tay, chân, cơ thể... không phải là hiện tượng hiếm gặp ở trẻ. Riêng hiện tượng chỉ có một ngón tay, một ngón chân duy nhất ở mỗi bàn tay, bàn chân như trên là một hiện tượng tôi chưa bao giờ gặp. Những hiện tượng dị tật này thường liên quan đến rất nhiều nguyên nhân như: Rối loạn gene, di truyền hoặc cũng có thể do môi trường sống...
 
Tuy nhiên, với trường hợp cụ thể của gia đình cậu bé Đạt yếu tố di truyền đã thể hiện rất rõ. Nhưng để tìm ra được nguyên nhân của hiện tượng này thì phải có những xét nghiệm, nghiên cứu cụ thể về gene, về cấu trúc nhiễm sắc thể... mới có được một kết luận chính xác.
Hà Tùng Long

Chặt chém tại “studio” hoa cải

Vào tháng 10, tháng 11 (Dương lịch) mùa hoa cải quanh các khu vực ngoại thành Hà Nội như: Thạch Bàn, Kim Sơn, Liên Hà, An Lạc (Trâu Quỳ)… nở rộ, thu hút rất nhiều bạn trẻ và các nhiếp ảnh gia đến chụp ảnh, tổ chức picnic…
 
Nếu những năm trước, mọi người có thể về đây tha hồ chụp ảnh, vui đùa thỏa thích mà không hề bị thu một đồng phí nào thì trong khoảng hai năm trở lại đây, chỉ cần đến đây và đặt chân xuống ruộng là khách phải trả một khoản tiền gọi là phí "nát" hoa. Có không ít hộ gia đình đã lợi dụng việc này để đề ra những mức phí "trên trời" đối với khách khiến cho nhiều người trở nên bức xúc.
 
Nhiều người quảng cáo là chụp ảnh xong sẽ được tặng hoa cải mang về nhà cắm... nhưng thực chất là thu tiền cao ngất ngưởng.
 
Đặt chân là phải trả tiền
 
Tình trạng này xảy ra phổ biến nhất là ở khu vực cánh đồng hoa cải Đồng Cao thuộc tổ dân phố An Lạc, thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm.
 
Theo ông Nguyễn Văn Quý - Tổ trưởng tổ dân phố An Lạc, toàn khu vực Đồng Cao có diện tích khoảng hơn 18 ha, được chia đều cho hơn 100 hộ gia đình sản xuất. Sau khi thu hoạch xong vụ Thu - Đông, các gia đình thường tận dụng nguồn đất để trồng các loại hoa màu, trong đó cây hoa cải cúc và cải sen là chủ yếu vì không phải nộp thuế sản lượng. "Người ta trồng các loại hoa cải này với mục đích lấy hạt giống để bán. Chính vì thế mà vào khoảng giữa tháng 10 dương lịch là cả cánh đồng hoa cải nở rộ, rất đẹp và rất thơm nhưng đến gần Tết Nguyên đán thì hoa già, đơm quả sẽ không đẹp nữa. Cũng vì thế mà trong thời gian hoa nở, khách ở các nơi kéo về đây rất đông".
 
Nhiều người dân ở đây cho biết, thời điểm hoa cải bắt đầu nở, vào những ngày cuối tuần nắng đẹp hàng trăm người ở khu vực nội thành đổ xô về đây ngắm cảnh, chụp ảnh. Thậm chí trong thời gian gần đây nhiều cặp uyên ương còn kéo về đây chụp ảnh cưới khiến cho không khí lúc nào cũng tấp nập, rộn ràng.
 
Tuy nhiên, trong khoảng hai năm trở lại đây, khi chụp ảnh ở cánh đồng hoa cải trở thành mốt đã khiến cho không ít hộ gia đình tranh thủ thu phí để kiếm lời.
 
Mùa hoa cải thu hút rất nhiều bạn trẻ đến chụp ảnh.
 
Chị Trần Thị Lanh - chủ một ruộng hoa cải ở đây cho biết, trước đây các khoản phí ở đây đều do đội bảo vệ của tổ dân phố An Lạc đề ra và thu với một mức phí thống nhất là 5.000 đến 10.000/người trong mỗi lần xuống ruộng chụp ảnh. Với mức phí này, khách có thể tha hồ chụp ở bất kỳ thửa ruộng này sang thửa ruộng khác, không bị giới hạn về thời gian. Thậm chí còn có thể hái hoa mang về nếu thích. Mức phí này được đưa ra trên cơ sở đã được sự thống nhất và đồng tình ủng hộ của các hộ gia đình có ruộng đất canh tác ở đây. Ngoài ra, mức phí gửi xe mỗi xe là 2.000 đồng/xe máy, 10.000 đồng/xe ô tô. Xe gửi có vé của đội trông coi và có chỗ để hẳn hoi.
 
Nhưng vì thấy các mối lợi quá "hời" nên nhiều gia đình đã phản đối, đòi phải được quyền thu phí của khách với lý do "ruộng chúng tôi trồng nên chúng tôi phải được thu tiền".
 
Điều này đã tạo điều kiện cho một số hộ gia đình tự ý đề ra mức thu phí của riêng mình. Mặc dù mức giá phổ biến chung vẫn là 10.000 đồng/người mỗi lần muốn vào ruộng hoa cải chụp ảnh nhưng có nhiều nhà lấy lý do ruộng nhà mình vừa mới trồng, hoa đẹp hơn nên "hét" giá lên tới 30.000/người và thậm chí có nơi còn "chém đẹp" với mức 50.000/người. Khách phải trả đầy đủ tiền trước khi xuống ruộng.
 
Chị Trần Thị Thu Tuyết - một "cò" hoa cải, thường hay dẫn mối cho các cặp uyên ương trong nội thành về đây chụp ảnh cưới hé lộ, đối với các cặp uyên ương muốn vào ruộng chụp ảnh thì phía phải trả cho chủ tới 150.000 đến 200.000 trong một lần xuống chụp.
 
Xe máy, xe ô tô, không bất kể đỗ ở đâu, chỉ cần trong phạm vi ruộng nhà mình là nhiều hộ gia đình cũng sẵn sàng bắt khách móc túi trả với mức giá 10.000 đồng/ xe máy và 50.000/xe ô tô.
 
Xe máy gửi không có người trông coi nhưng khi dắt ra đều phải trả 10.000/xe.
 
Hai sào hoa cải thu lợi tiền triệu
 
Theo cách tính đơn giản của một số người dân ở đây thì một ruộng hoa cải vào mùa hoa nở số tiền thu được từ phí "nát" hoa có khi lên tới mấy triệu trên hai sào ruộng. "Tôi nhẩm sơ sơ thì hai sào hoa cải, không phải chăm bón, không phải cày bừa, gặt lúa xong, đốt gốc rạ là gieo hạt như lợi nhuận thu được cao gấp 8 đến 10 lần so với trồng lúa. Điều này khiến không ít hộ nông dân quên mất mục đích ban đầu là trồng hoa cải để lấy hạt giống mà chuyển hẳn sang mục đích kinh doanh dịch vụ chụp ảnh hoa cải" -anh Nguyễn Văn Thông, chủ một vườn trái cây ở khu vực này cho biết.
 
Một chị tên là Tuyết bán nước ở gần đó còn cho biết, nhà chị có bốn sào cải sen và hai sào cải cúc. Nếu tính cả tiền bán rau và bán hạt giống từ sáu sào hoa cải thì giỏi lắm cũng chỉ được hơn một triệu đồng. Trong khi chuyển sang làm kinh doanh hoa cải thì mỗi ngày cao điểm chị cũng đã thu được tới 500.000 đến 600.000 đồng. "Mở mắt là có người đến chụp, không cần làm gì chỉ cần đứng ở trên quan sát, khi nào họ chụp xong là mình có tiền. Khỏe như thế tội gì không làm".
 
Cũng chính vì hoa cải mang lại nhiều lợi nhuận hơn nên không ít gia đình sẵn sàng bỏ tiền ra mua trọn gói khu ruộng của các gia đình bên cạnh để kinh doanh lại. Hình thức đón khách, mời khách ở đây cũng chuyên nghiệp hơn rất nhiều.
 
 
Chị Nguyễn Thị Thủy - nhân viên của một công ty truyền thông ở Hà Nội nói: "Vừa mới đáp xe xuống đây đã thấy bao nhiêu chị chạy đến bủa vây săn đón, mời mọc. Người thì bảo chỉ thu phí chụp ảnh, không lấy tiền gửi xe. Người thì bảo chỉ lấy tiền gửi xe, không thu phí chụp ảnh. Người còn quảng cáo là chụp ảnh xong sẽ được tặng một bó hoa cải mang về nhà cắm... Nhưng thực chất họ thu một mức phí cao ngất ngưởng bao gồm cả ba thứ trên. Tôi cả tin tưởng thật nên bị mắc lừa mà không cãi lại được họ. Nhiều bạn trẻ khác cũng bị mắc lừa như tôi đã tỏ thái độ phản ứng thì bị họ cong cớn cạnh khóe, xách mé khiến nhiều người rất khó chịu".
 
Nhiều khách thấy thu phí quá cao, không nhận lời vào ruộng của ai thì có khi bị các chủ nhân trách móc bằng bỡn cợt.
 
"Bọn em là sinh viên nên khi thấy chủ ở đây hét giá tới 30.000/người/lần chụp ảnh thì không đồng ý. Bọn em định sẽ đi dọc đường ruộng để ngắm cảnh thôi nhưng không ít người ở đây tỏ ra rất khó chịu. Họ cho rằng không xuống ruộng nhưng đi trên bờ ruộng chung do họ đắp thì cũng phải trả tiền. Nói chung nhiều người dân ở đây chỉ biết đến tiền và ai đến đây móc tiền cho họ thì họ mới vui" - Hữu Thắng , sinh viên Đại học Hà Nội cho biết.
 
Trao đổi với ông Nguyễn Văn Quý - tổ trưởng tổ dân phố An Lạc về vấn đề này, ông cho biết: "Việc các hộ gia đình tự ý thu phí với nhiều mức giá khác nhau chỉ mới xảy ra trong mùa hoa cải năm nay nhưng vì chưa có quy định chung nên đang xảy ra hết sức lộn xộn. Tôi biết có nhiều người đã đi ngược lại với chủ trương ban đầu, đưa ra một mức phí rất cao khiến cho nhiều khách đến đây không được hài lòng. Tuy nhiên, do mùa hoa cải chỉ còn kéo dài được khoảng vài tuần nữa là hết nên chúng tôi tạm thời chưa có biện pháp gì. Sau vụ mùa này, chúng tôi sẽ họp toàn tổ dân phố lại để đưa ra những quy định chung nhằm quản lí chặt chẽ việc thu phí. Đây cũng chính là động thái để giữ gìn môi trường, hình ảnh vốn có của làng xã xưa nay".
 
Hà Tùng Long

Một cuộc đời giữa hai cây cột điện

Ngay giữa lòng Hà Nội, cách Hồ Gươm chỉ vài chục bước chân, lẩn khuất phía sau những hàng xe hơi sang trọng đầu phố Bảo Khánh có một quán trà đá, đặc biệt đến nỗi bất kỳ ai nhìn thấy cũng không khỏi chạnh lòng.
Đó là quán trà đá của bà cụ Nguyễn Thị Yến (nay đã 86 tuổi) nằm lọt thỏm giữa hai cây cột điện cách nhau chưa đầy 60 cm. Quán trà đá đặc biệt ấy gần 40 năm qua là "miếng cơm manh áo" của cả một gia đình toàn những người tàn tật, ốm đau, không nơi vá víu.
 
Truân chuyên đời người

Quán trà đặc biệt của cụ Yến lọt thỏm giữa hai cây cột điện.
 
Tôi tìm đến quán trà đá đặc biệt này đúng vào thời điểm gió mùa Đông Bắc tràn về sau một vài ngày nắng ấm, những cơn gió lạnh rít lên liên hồi làm cho mặt nước Hồ Gươm cũng trở nên dậy sóng. Người đi đường cũng đã khoác trở lại những chiếc áo ấm dày cộm để chống chọi với một đợt rét mới. Ấy vậy mà đến đầu phố Bảo Khánh, một cảnh tượng khiến tôi không cầm thể cầm nổi lòng mình, đó là một bà cụ tóc bạc như cước, ngồi co ro dưới chân hai cây cột điện, mình mặc những tấm áo hết sức mỏng manh. Phía trên đầu được che chắn tạm bợ bởi một tấm ván cũ, phía trước là một giỏ xách nhỏ rách nát với đôi ba gói hướng dương, vài bao thuốc lá, mấy phong kẹo cao su và năm, sáu chai nước khoáng. Thấy tôi lại gần, bà cụ lên tiếng mời uống nước.

Tôi ngồi xuống bên cụ mua một phong kẹo cao su, một chai nước khoáng và bắt đầu chuyện. Cụ Yến kể, cuộc đời cụ cũng có thể ví như một cuốn "Truyện Kiều", cũng đẫm nước mắt và chất chứa đau thương không khác gì nàng Kiều trước đây. Tuy không lận đận, truân chuyên như Kiều nhưng cụ lại có những nỗi khổ riêng không ai thấu tỏ.

Cụ là người gốc Phú Xuyên (Hà Tây) nhưng lên Hà Nội vào năm 1950. Mẹ bị mù chết sớm, bố vợ nọ con kia nên chẳng hề ngó ngàng gì tới cụ. Ở với ông bà ngoại được mấy năm thì ông bà ngoại chết. Các cậu, các dì thương tình đưa về nuôi nhưng do gia cảnh ai cũng khó khăn nên tuổi thơ của cụ là những tháng ngày đi ở đợ cho nhà người. Năm 20 tuổi cụ lấy chồng và sinh được ba trai một gái. Sống ở quê được một thời gian thì buộc phải dắt díu nhau lên Hà Nội để kiếm kế sinh nhai, vì hồi ấy cụ là con mồ côi nên ở quê không được phân ruộng.

Những ngày mới lên Hà Nội, cụ phải xoay đủ nghề để nuôi sống cả một gia đình tới sáu miệng ăn. Lúc đầu bán xôi, cháo dạo ở những con phố nhỏ quanh khu vực chợ Đồng Xuân. Bán được 4 năm thì cô con gái duy nhất đổ bệnh nặng, cụ phải nghỉ bán để ở nhà chăm sóc con.

"Thời gian ấy gia đình tôi vô cùng khốn khổ, đồng lương thợ may ít ỏi của ông nhà tôi không đủ trang trải cuộc sống hàng ngày thì lấy đâu tiền mua thuốc cho con. Thương con quá nhưng không còn cách nào khác tôi đành bấm bụng gửi con nhờ hàng xóm trông hộ để ra chợ Đồng Xuân bán phở, rồi chuyển sang bán hoa quả để kiếm tiền nuôi cả gia đình và thuốc men cho các con".

Vắt kiệt sức mình để lao vào mưu sinh, nuôi sống cả nhà khiến cho cụ Yến chả mấy chốc từ một phụ nữ được tiếng "lực điền" đã phải ngã quỵ trước những cơn đau ốm bất thường. Không còn sức khỏe để có thể rong ruổi khắp các phố phường bán dạo, nên quán trà đá trở thành chiếc "cần câu cơm" duy nhất lúc bấy giờ mà cụ có thể làm được để nuôi sống các con.

Nuôi được con các vừa lúc trưởng thành thì cũng là lúc người chồng, chỗ dựa tinh thần lớn lao nhất của cụ, bỏ cụ ra đi do một căn bệnh hiểm nghèo. Bố vừa mất chưa được bao lâu thì các con lao vào giằng xé, tranh giành sở hữu ngôi nhà tập thể khiến cho cụ hết sức đau lòng. Không còn cách nào khác, cụ đành phải bán căn nhà mà cả một đời hai vợ chồng tích góp, dành dụm để chia cho các con. Còn mình thì âm thầm đi thuê một căn chòi nhỏ ở ven sông Hồng để sống cùng cô con gái mắc bệnh teo cơ và tim bẩm sinh.

"Lạnh lắm chứ"

Tôi hỏi cụ: "Cụ ngồi đây cả ngày mà không lạnh sao?" - cụ cúi đầu lẳng lặng, chậm rãi đưa miếng trầu vừa giã nhuyễn trong chiếc cối đồng vào miệng, bỏm bẻm nhai rồi đưa ánh mắt xa xăm nhìn về phía Hồ Gươm như đang hồi tưởng về quãng đời cơ cực của mình. Trên khóe mi, hai hàng nước mắt dâng lên ầng ậc. Lẳng lặng một lúc lâu, cụ mới lên tiếng: "Lạnh chứ, ngồi trong nhà còn lạnh huống hồ ngồi giữa trời nhưng có lẽ quen rồi nên lạnh thế này chứ lạnh nữa thì tôi vẫn chịu được. Những hôm lạnh quá thì mặc thêm nhiều áo để chống lạnh. Lạnh thế nhưng gần 40 năm qua tôi chưa hề bỏ buổi chợ nào trừ ngày giỗ ông nhà tôi và hai ngày Tết".

Hàng ngày, cứ đều đặn 6h vào mùa đông và 5h30 vào mùa hè, cụ đã có mặt ở đây. Bán cho tới 11h đêm mới về nhà nghỉ. Vì không có vốn nên cũng không dám buôn bán gì nhiều. Trước đây, ngoài bán những thứ lặt vặt này cụ còn bán cả trà đá nhưng có một lần vì mắt mờ không nhìn thấy rõ, cụ vô tình rót nước vào chiếc chén còn đọng một ít cặn, vậy là bị người khách giơ thẳng chiếc chén vào mặt quát mắng khiến cụ thấy nhục nhã quá nên thôi.

Mặc dù khách hàng đến với cụ chủ yếu cũng là những người lao động, mỗi lần chỉ là vài điều thuốc, một gói hướng dương... nhưng vì thông cảm với hoàn cảnh của cụ nên dù ở xa họ vẫn tìm đến mua hàng. "Tôi nói thật, bán cái này thu nhập không đáng kể đâu mà chủ yếu là nhờ cơm rơi lộc vãi nhiều. Nghĩa là nhiều người mua người ta thấy thương cho hoàn cảnh của mình nên tiền thừa người ta biếu luôn không lấy. Số tiền đấy để dành, ăn tằn ăn tiện và thuốc men cho cô con gái" - cụ Yến thật lòng chia sẻ.

Cụ còn cho biết thêm: "Tôi đi thế này để khuây khỏa là chính chứ ở nhà nhìn bốn bức tường, nhìn các con tôi lại đau lòng thêm. Ba đứa con trai, một con gái nhưng đứa nào bây giờ cũng bệnh tật ốm đau. Thằng cả trước là bộ đội, ra quân được một thời gian thì bị ung thư rồi ra đi để lại cho vợ nó một nách hai đứa con mọn. Bản thân cô con dâu cả cũng bị bệnh tim nặng. Thằng thứ hai vốn là công nhân nhà máy nước nhưng trong một lần đang làm thì không may bị ống nước đè gẫy chân. Bây giờ trở nên tàn phế, không làm được gì. Thằng út thì trước cũng đi làm linh tinh nhưng giờ lại bị thất nghiệp, ở nhà trông chờ vào đồng lương của vợ là công nhân vệ sinh nhà máy nước. Còn cô con gái duy nhất năm nay đã 36 tuổi nhưng bị teo cơ từ nhỏ nên phải nằm một chỗ, không chồng con. Hàng tháng tôi vừa phải kiếm đủ tiền để nuôi sống mình vừa phải phụ giúp cho chúng nó và lo thuốc thang cho cô con gái. Nhiều lúc tính thôi không bán hàng nữa nhưng ở nhà thì lại chẳng biết bấu víu vào đâu".
 
Thùy Duyên mang tặng cụ Yến chiếc radio.

Trong lúc chúng tôi đang trò chuyện thì có một cô gái, ăn mặc khá sành điệu mang đến biếu cụ Yến một chiếc radio. Cô tên Nguyễn Thị Thùy Duyên - phiên dịch tiếng Trung cho một công ty. Một lần lên mạng, cô nhìn thấy hình ảnh của cụ Yến do một số bạn trẻ chụp rồi đưa lên trên một diễn đàn, vậy là mỗi lần có thời gian rỗi cô lại tìm đến trò chuyện với cụ. "Qua mấy lần trò chuyện, thấy bà ngồi một mình, không có ai trò chuyện cùng rất buồn nên em hỏi bà thích nghe đài không thì bà bảo là rất thích nhưng không có tiền mua đài, vậy là em mua biếu bà để bà nghe cho đỡ buồn..." -  Thùy Duyên cho biết.

Hành động của Duyên khiến tôi đã phải suy nghĩ rất nhiều. Thì ra bên cạnh những bạn trẻ chỉ biết nghĩ đến cá nhân mình thì vẫn còn rất nhiều bạn trẻ biết quan tâm, sẻ chia với những mảnh đời, những số phận kém may mắn xung quanh mình.
 
Hà Tùng Long

40 năm "nhặt" phế tích chiến tranh

Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nhưng trên đất nước Việt Nam vẫn còn những cựu chiến binh âm thầm sống với ký ức một thời hoa lửa.
Dù cuộc sống có đổi thay đến nhường nào thì họ vẫn không thể nào quên được những tháng ngày đã vào sinh ra tử cùng đồng chí, đồng đội trong những chiếc hào, trên các trận địa… Ông Nguyễn Chí Thiện (Kẻ Sặt - Hải Dương) - người đã hơn 40 năm đi dọc dài đất nước để sưu tầm các kỷ vật chiến tranh là một người như thế.
Đi khắp nơi tìm kỷ vật chiến tranh

Tất cả các kỷ vật đều được ông nâng niu, giữ gìn như những báu vật cuộc đời
Nhiều người ở thị trấn Kẻ Sặt, Hải Dương cho ông Thiện là người "gàn nhất thế kỷ" bởi nhà nghèo mà cứ suốt ngày rong ruổi đi tìm những thứ đã bỏ đi, chẳng để làm gì. Riêng ông Thiện và những người lính từng trải qua cuộc chiến như ông thì thấu hiểu hơn ai hết ý nghĩa của những vật được xem là bỏ đi đó. Việc góp nhặt chúng lại không chỉ là một cách để tri ân những người đồng đội đã ngã xuống vì bình yên Tổ quốc mà còn là một cách để "nhen" lửa ký ức cho thế hệ mai sau.

Ông Thiện cho biết, trong gia tài của ông hiện có hơn 1.000 hiện vật gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong đó, không chỉ có những kỷ vật của "quân ta" (Quân đội Nhân dân Việt Nam) mà còn có một số kỷ vật của "phía bên kia" nữa. "Theo suy nghĩ của cá nhân tôi, đã gọi là chiến tranh thì phải có quân ta và quân địch. Bây giờ chiến tranh đã lùi xa, tôi muốn sưu tầm cả hiện vật của quân địch để mọi người hiểu vì sao quân ta dù được trang bị rất thô sơ những vẫn đánh thắng quân địch với đủ loại phương tiện hiện đại".

Toàn bộ số kỷ vật này được ông phân chia theo hai mảng, một là các "hiện vật cứng", hai là các "hiện vật mềm". "Hiện vật cứng" chính là những hiện vật có thể tay sờ mắt thấy như: một bộ quân phục bạc màu thời gian, một khẩu súng AK gãy nòng, một chiếc mũ tai bèo vá víu, một chiếc bi đông có dấu máu đồng đội... còn "hiện vật mềm" là những lá thư viết vội trước lúc hành quân, những bài thơ cảm động trước lúc bước vào trận đánh, một bài hát ngêu ngao nhớ về quê nhà, một tấm ảnh hoặc những tờ nhật kí đã nhòe nét chữ... Tất cả được ông giữ gìn cẩn trọng như những báu vật của cuộc đời.
Một chiếc huy chương "Điệp báo miền Nam" hiếm hoi mà ông Thiện sưu tầm được.

Bộ tượng "toàn dân kháng chiến" được người dân Việt Bắc tạc từ năm 1947.

Hàng năm, cứ đúng ngày 22/ 12, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông lại lôi các "hiện vật mềm" của mình ra phơi phóng và "hiện vật cứng" ra lau chùi, bảo dưỡng. Đó cũng là lần duy nhất trong năm, các anh em, đồng chí, đồng đội... của ông từ các nơi về cùng ông ôn lại quá khứ và nghe ông kể lại những câu chuyện cảm động trong quá trình đi sưu tầm kỷ vật chiến tranh.

Ông kể, bố ông hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp khi ông còn là một cậu bé. Kỷ vật duy nhất mà người cha thân yêu để lại đó là chiếc áo trấn thủ chi chít lỗ thủng và một vài vết máu. Tuổi thơ ông cảm thấy không thiếu bóng dáng cha là chính nhờ chiếc áo đầy "hơi ấm" kỷ niệm ấy. Đó cũng chính là nguyên nhân thôi thúc ông đi khắp mọi vùng miền Tổ quốc để sưu tầm các kỷ vật về kháng chiến. Ngay từ những năm 1960, khi chiến tranh vẫn còn vô cùng ác liệt, ông đã bắt đầu việc tìm kiếm của mình. "Hồi đó, miền Bắc mới hòa bình còn miền Nam thì vẫn còn chìm trong khói lửa. Kinh tế gia đình tôi hồi đó cũng khó khăn như bao gia đình khác nhưng tôi đã cố gắng làm lụng, chắt chiu từng đồng để đi sưu tầm. Hầu hết việc sưu tầm đều phải đi xa, có khi đi vào tận Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An... những lần đi xa, hôm nào mượn được xe đạp thì chớ nếu không toàn phải đi bộ mấy ngày đường" - ông Thiện cho biết thêm.

Để một chút gì ngày mai

Ông Thiện bên các kỷ vật của tiểu đội nữ thanh niên xung phong ở chiến trường miền tây Quảng Trị
Hỏi ông Thiện về kỷ niệm nhớ nhất trong những lần đi sưu tập kỷ vật, ông trầm tư một lúc nói trả lời gọn: "Với tôi, một kỷ vật là một câu chuyện không thể quên về tình người đã giúp tôi có được".

Trong kho tàng kỷ vật chiến tranh của ông, một bộ tượng gỗ gồm 4 bức tượng tái hiện cuộc kháng chiến được người dân vùng "thủ đô kháng chiến" (Thái Nguyên) tạc vào năm bắt đầu bước vào chiến dịch Việt Bắc 1947 được ông liệt vào hàng "cổ vật" có giá trị lịch sử nhất. Để có được bộ tượng này ông đã mất không biết bao nhiêu thời gian, tâm sức và đánh đổi cả những hiện vật khác để thuyết phục người ta nhượng lại cho mình.

Ông kể, cách đây 3 năm, ông được một người đồng đội cũ cho biết ở gia đình một ông cán bộ nọ ở Hưng Yên đang có một bộ tượng "toàn dân kháng chiến" bằng gỗ mít rất đẹp, được tạc từ năm 1947. Ông liền lặn lội sang Hưng Yên gặp ông chủ và lân la làm quen. Sau một thời gian thân thiết như anh em, chủ nhà mới chịu tiết lộ rằng ông vốn là cán bộ của Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên. Trước khi về hưu, ông được bảo tàng tặng lại bộ tượng này để làm kỷ niệm. Bộ tượng này gồm 4 bức tạc bốn người tiêu biểu cho bốn thành phần tham gia kháng chiến thời bấy giờ. Người đàn ông mặc quân phục là người lính cụ Hồ, chị phụ nữ cầm cờ lớn đại diện cho tầng lớp trí thức, người đàn ông cầm cờ nhỏ hơn đại diện cho giai cấp công nông, còn người đàn ông vác súng là đại diện cho dân quân du kích địa phương. Bốn bức tượng này phản ánh một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện theo như lời Bác Hồ kêu gọi thời bấy giờ.

Sau khi được tận mắt nhìn thấy, được nghe kể cụ thể về ý nghĩa và lai lịch của 4 bức tượng thì ông không muốn rời xa chúng chút nào. Để tránh bị hiểu nhầm, ông liền mời chủ nhân của bộ tượng qua nhà mình chơi và tặng cho ông một số kỷ vật mà mình có, sau đó ông mới đặt vấn đề đề nghị được nhượng lại bộ tượng này. Ông chủ dù rất quý bộ tượng nhưng trước tấm lòng của người bạn mới quen cũng đồng ý. Tuy nhiên, trước khi nhượng lại ông muốn cơ quan cũ của ông biết chuyện để tránh những hiểu lầm về sau nên đã bảo ông Thiện cùng ông hành trình lên Thái Nguyên. "Trước khi lên Bảo tàng Thái Nguyên tôi phải chuẩn bị một số tài liệu và kỷ vật để tặng cho họ vì sợ họ hiểu nhầm tôi là lái buôn. Khi tôi vừa lên thì họ đón tiếp tôi rất chu đáo và nói rằng đã biết tôi từ rất lâu trước đó. Sau khi trình bày cụ thể vấn đề, mấy anh chị em trong bảo tàng đều vui vẻ đồng ý việc nhượng lại tượng".

Một kỷ niệm khác, từng khiến ông rơi nước mắt đó là trong chuyến đi vào chiến trường Quảng Trị năm 1995. Đó là chuyến đi xa nhất trong hành trình đi sưu tập kỷ vật kháng chiến của mình. Sau chiến tranh, có tiểu đội nữ thanh niên xung phong ở miền Tây Quảng Trị đã không về lại quê mà ở lại ngay trên mảnh đất mà họ từng chiến đấu để sống với nhau. Thường ngày, các cô vẫn dùng những chiếc lược được làm bằng vỏ bom mà các anh lính trong chiến tranh làm tặng hoặc dùng những chiếc mũ sắt của lính chế độ cũ làm gáo nước...

 Khi ông tới xin, các cô còn đào lên một thùng sắt gồm tất cả tư trang của hơn 10 người trong tiểu đội. Khi nhận các kỷ vật này từ tay các cô, ông đã không cầm được nước mắt. Trước lúc chia tay, ông Thiện đọc lại cho tôi nghe bốn câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca "Đất nước" mà ông rất thích: "Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình yên/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm nên đất nước". Tâm nguyện duy nhất của ông là muốn có điều kiện để làm một bảo tàng mini, nhằm đưa những kỷ vật này ra trưng bày để thế hệ con cháu hiểu hơn về những người đã "làm nên đất nước" này. 
Hà Tùng Long