Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

40 năm "nhặt" phế tích chiến tranh

Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nhưng trên đất nước Việt Nam vẫn còn những cựu chiến binh âm thầm sống với ký ức một thời hoa lửa.
Dù cuộc sống có đổi thay đến nhường nào thì họ vẫn không thể nào quên được những tháng ngày đã vào sinh ra tử cùng đồng chí, đồng đội trong những chiếc hào, trên các trận địa… Ông Nguyễn Chí Thiện (Kẻ Sặt - Hải Dương) - người đã hơn 40 năm đi dọc dài đất nước để sưu tầm các kỷ vật chiến tranh là một người như thế.
Đi khắp nơi tìm kỷ vật chiến tranh

Tất cả các kỷ vật đều được ông nâng niu, giữ gìn như những báu vật cuộc đời
Nhiều người ở thị trấn Kẻ Sặt, Hải Dương cho ông Thiện là người "gàn nhất thế kỷ" bởi nhà nghèo mà cứ suốt ngày rong ruổi đi tìm những thứ đã bỏ đi, chẳng để làm gì. Riêng ông Thiện và những người lính từng trải qua cuộc chiến như ông thì thấu hiểu hơn ai hết ý nghĩa của những vật được xem là bỏ đi đó. Việc góp nhặt chúng lại không chỉ là một cách để tri ân những người đồng đội đã ngã xuống vì bình yên Tổ quốc mà còn là một cách để "nhen" lửa ký ức cho thế hệ mai sau.

Ông Thiện cho biết, trong gia tài của ông hiện có hơn 1.000 hiện vật gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong đó, không chỉ có những kỷ vật của "quân ta" (Quân đội Nhân dân Việt Nam) mà còn có một số kỷ vật của "phía bên kia" nữa. "Theo suy nghĩ của cá nhân tôi, đã gọi là chiến tranh thì phải có quân ta và quân địch. Bây giờ chiến tranh đã lùi xa, tôi muốn sưu tầm cả hiện vật của quân địch để mọi người hiểu vì sao quân ta dù được trang bị rất thô sơ những vẫn đánh thắng quân địch với đủ loại phương tiện hiện đại".

Toàn bộ số kỷ vật này được ông phân chia theo hai mảng, một là các "hiện vật cứng", hai là các "hiện vật mềm". "Hiện vật cứng" chính là những hiện vật có thể tay sờ mắt thấy như: một bộ quân phục bạc màu thời gian, một khẩu súng AK gãy nòng, một chiếc mũ tai bèo vá víu, một chiếc bi đông có dấu máu đồng đội... còn "hiện vật mềm" là những lá thư viết vội trước lúc hành quân, những bài thơ cảm động trước lúc bước vào trận đánh, một bài hát ngêu ngao nhớ về quê nhà, một tấm ảnh hoặc những tờ nhật kí đã nhòe nét chữ... Tất cả được ông giữ gìn cẩn trọng như những báu vật của cuộc đời.
Một chiếc huy chương "Điệp báo miền Nam" hiếm hoi mà ông Thiện sưu tầm được.

Bộ tượng "toàn dân kháng chiến" được người dân Việt Bắc tạc từ năm 1947.

Hàng năm, cứ đúng ngày 22/ 12, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông lại lôi các "hiện vật mềm" của mình ra phơi phóng và "hiện vật cứng" ra lau chùi, bảo dưỡng. Đó cũng là lần duy nhất trong năm, các anh em, đồng chí, đồng đội... của ông từ các nơi về cùng ông ôn lại quá khứ và nghe ông kể lại những câu chuyện cảm động trong quá trình đi sưu tầm kỷ vật chiến tranh.

Ông kể, bố ông hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp khi ông còn là một cậu bé. Kỷ vật duy nhất mà người cha thân yêu để lại đó là chiếc áo trấn thủ chi chít lỗ thủng và một vài vết máu. Tuổi thơ ông cảm thấy không thiếu bóng dáng cha là chính nhờ chiếc áo đầy "hơi ấm" kỷ niệm ấy. Đó cũng chính là nguyên nhân thôi thúc ông đi khắp mọi vùng miền Tổ quốc để sưu tầm các kỷ vật về kháng chiến. Ngay từ những năm 1960, khi chiến tranh vẫn còn vô cùng ác liệt, ông đã bắt đầu việc tìm kiếm của mình. "Hồi đó, miền Bắc mới hòa bình còn miền Nam thì vẫn còn chìm trong khói lửa. Kinh tế gia đình tôi hồi đó cũng khó khăn như bao gia đình khác nhưng tôi đã cố gắng làm lụng, chắt chiu từng đồng để đi sưu tầm. Hầu hết việc sưu tầm đều phải đi xa, có khi đi vào tận Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An... những lần đi xa, hôm nào mượn được xe đạp thì chớ nếu không toàn phải đi bộ mấy ngày đường" - ông Thiện cho biết thêm.

Để một chút gì ngày mai

Ông Thiện bên các kỷ vật của tiểu đội nữ thanh niên xung phong ở chiến trường miền tây Quảng Trị
Hỏi ông Thiện về kỷ niệm nhớ nhất trong những lần đi sưu tập kỷ vật, ông trầm tư một lúc nói trả lời gọn: "Với tôi, một kỷ vật là một câu chuyện không thể quên về tình người đã giúp tôi có được".

Trong kho tàng kỷ vật chiến tranh của ông, một bộ tượng gỗ gồm 4 bức tượng tái hiện cuộc kháng chiến được người dân vùng "thủ đô kháng chiến" (Thái Nguyên) tạc vào năm bắt đầu bước vào chiến dịch Việt Bắc 1947 được ông liệt vào hàng "cổ vật" có giá trị lịch sử nhất. Để có được bộ tượng này ông đã mất không biết bao nhiêu thời gian, tâm sức và đánh đổi cả những hiện vật khác để thuyết phục người ta nhượng lại cho mình.

Ông kể, cách đây 3 năm, ông được một người đồng đội cũ cho biết ở gia đình một ông cán bộ nọ ở Hưng Yên đang có một bộ tượng "toàn dân kháng chiến" bằng gỗ mít rất đẹp, được tạc từ năm 1947. Ông liền lặn lội sang Hưng Yên gặp ông chủ và lân la làm quen. Sau một thời gian thân thiết như anh em, chủ nhà mới chịu tiết lộ rằng ông vốn là cán bộ của Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên. Trước khi về hưu, ông được bảo tàng tặng lại bộ tượng này để làm kỷ niệm. Bộ tượng này gồm 4 bức tạc bốn người tiêu biểu cho bốn thành phần tham gia kháng chiến thời bấy giờ. Người đàn ông mặc quân phục là người lính cụ Hồ, chị phụ nữ cầm cờ lớn đại diện cho tầng lớp trí thức, người đàn ông cầm cờ nhỏ hơn đại diện cho giai cấp công nông, còn người đàn ông vác súng là đại diện cho dân quân du kích địa phương. Bốn bức tượng này phản ánh một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện theo như lời Bác Hồ kêu gọi thời bấy giờ.

Sau khi được tận mắt nhìn thấy, được nghe kể cụ thể về ý nghĩa và lai lịch của 4 bức tượng thì ông không muốn rời xa chúng chút nào. Để tránh bị hiểu nhầm, ông liền mời chủ nhân của bộ tượng qua nhà mình chơi và tặng cho ông một số kỷ vật mà mình có, sau đó ông mới đặt vấn đề đề nghị được nhượng lại bộ tượng này. Ông chủ dù rất quý bộ tượng nhưng trước tấm lòng của người bạn mới quen cũng đồng ý. Tuy nhiên, trước khi nhượng lại ông muốn cơ quan cũ của ông biết chuyện để tránh những hiểu lầm về sau nên đã bảo ông Thiện cùng ông hành trình lên Thái Nguyên. "Trước khi lên Bảo tàng Thái Nguyên tôi phải chuẩn bị một số tài liệu và kỷ vật để tặng cho họ vì sợ họ hiểu nhầm tôi là lái buôn. Khi tôi vừa lên thì họ đón tiếp tôi rất chu đáo và nói rằng đã biết tôi từ rất lâu trước đó. Sau khi trình bày cụ thể vấn đề, mấy anh chị em trong bảo tàng đều vui vẻ đồng ý việc nhượng lại tượng".

Một kỷ niệm khác, từng khiến ông rơi nước mắt đó là trong chuyến đi vào chiến trường Quảng Trị năm 1995. Đó là chuyến đi xa nhất trong hành trình đi sưu tập kỷ vật kháng chiến của mình. Sau chiến tranh, có tiểu đội nữ thanh niên xung phong ở miền Tây Quảng Trị đã không về lại quê mà ở lại ngay trên mảnh đất mà họ từng chiến đấu để sống với nhau. Thường ngày, các cô vẫn dùng những chiếc lược được làm bằng vỏ bom mà các anh lính trong chiến tranh làm tặng hoặc dùng những chiếc mũ sắt của lính chế độ cũ làm gáo nước...

 Khi ông tới xin, các cô còn đào lên một thùng sắt gồm tất cả tư trang của hơn 10 người trong tiểu đội. Khi nhận các kỷ vật này từ tay các cô, ông đã không cầm được nước mắt. Trước lúc chia tay, ông Thiện đọc lại cho tôi nghe bốn câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca "Đất nước" mà ông rất thích: "Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình yên/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm nên đất nước". Tâm nguyện duy nhất của ông là muốn có điều kiện để làm một bảo tàng mini, nhằm đưa những kỷ vật này ra trưng bày để thế hệ con cháu hiểu hơn về những người đã "làm nên đất nước" này. 
Hà Tùng Long

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét