Đây là lễ hội mừng đón Trung thu duy nhất ở miền Bắc không có múa lân, không có mâm cỗ… mà chỉ có tiếng hát giao duyên tình tứ của những cặp nam thanh nữ tú hoặc các cặp bô lão ở hai bên bờ sông Cửu An. Lễ hội diễn ra lúc trăng vừa lên quá ngọn sào cho đến lúc gà báo sáng canh hai thì mới kết thúc.
Hát giao duyên đón Tết Trung thu
Cụ Bùi Đình Trọng (78 tuổi) thôn Ngọc Cục, xã Thúc Kháng kể rằng theo lệ xưa tục cũ, lễ hội hát trống quân đón trăng Rằm tháng 8 hàng năm diễn ra to nhất vào đúng đêm Trung thu, nhưng từ ngày mồng mười đầu tháng người làng hai thôn Tào Khê và Đào Xá đã quần tụ về hát hò, giao duyên thâu đêm suốt sáng. Thường trò hát bắt đầu vào khoảng 22h đêm vì đó là thời điểm trăng sáng nhất, gió thổi nhẹ nhất. “Ánh trăng dọi xuống mặt sông lấp lánh, tiếng ồn ào không còn, không gian yên tĩnh lắng mình cho tiếng hát. Sau một hồi trống hiệu, trai thôn Tào đứng bên này sông bắt đầu lên tiếng, hát vọng sang bên kia khơi mào trò hát. Gái thôn Đào bên này nghe đối thì hát đáp lại. Đôi này đối nhau cho đến khi nào không còn “vốn liếng” thơ ca nữa thì nhường lại cho đôi khác”. Trẻ hát theo lối của trẻ, già hát đối đáp theo lối của già. Cứ thế, trò hát kéo dài cho đến khi trời gần sáng. Thường thì gà gáy báo đã sang canh hai cũng là lúc hội bắt đầu vãn, người thưa dần. Lễ hội này kéo dài cho đến tận ngày 23 âm lịch của tháng Tám mới kết thúc.
Sở dĩ người hai thôn chọn đôi bờ sông Cửu An làm nơi tổ chức lễ hội vì đoạn sông này gần đền Bà Chúa – người đã có công khai sinh ra môn nghệ thuật truyền thống này. Thêm nữa, bề rộng của sông Cửu An chỉ xấp xỉ 50m nên khi trai gái hai làng đứng hai bên bờ sông dù có một khoảng cách nhất định nhưng vẫn nghe rõ tiếng hát của nhau và thậm chí nhìn thấy mặt nhau rất rõ. Cũng vì lẽ đó mà lễ hội trống quân này còn được gọi là hội “kết duyên đôi lứa”. Sau lễ hội thường có nhiều đôi trai gai nên duyên vợ chồng vì “kết” cái nghĩa cái tình gửi gắm cho nhau trong từng câu hát.
Tuy nhiên, có một nguyên tắc bất di bất dịch đó là, những người đã có vợ, có chồng thì không bao giờ được tham gia hát. Luật lệ này sinh ra từ một lời nguyền. Cụ Bùi Văn Ngựu (89 tuổi) người thôn Tào Khê cho hay, trước đây không hề có luật lệ này. “Số là vì muốn ai cũng được vui vẻ trong ngày hội nên không ai cấm ai hát hò, đối đáp. Tuy nhiên, có một số trai đã có vợ của thôn Tào khi hát đối với gái thôn Đào, vì quá say mê giọng hát của nhau nên đã bỏ vợ, bỏ chồng theo nhau... Trước đây, từng có một người vợ trẻ nhảy xuống sông Cửu An trẫm mình vì bị người chồng mới cưới phụ bạc, bỏ theo một người con gái khác bởi quá say mê giọng hát của nàng. Trước khi chết, người vợ đã nguyền rằng, từ hội rày trở đi nếu trai nào đã có vợ mà vẫn “xướng ca” thì người đó sẽ bị tuyệt tự. Bởi thế, hội không dám cho ai có vợ, có chồng vào hát nữa, trừ các bậc bô lão tuổi trên 60”.
Trống phục vụ cho lễ hội cũng là một loại trống hết sức đặc biệt. Để làm nên trống quân đệm thêm cho tiếng hát người ta thường đào một cái hố có đường kính khoảng 50cm, sau đó bỏ vào lòng hố hai vỏ ốc tù và loại lớn. Trên miệng hố người ta đặt một cái mâm gỗ vừa khít. Hai bên mâm được đóng hai chiếc cọc tre, giữa hai cọc tre được nối với nhau bởi một sợi dây tơ, giữa sợi tơ buộc một dùi tre theo tỉ lệ bên ngắn, bên dài. Mỗi khi quân hát giọng cao người trực trống chầu sẽ đệm trống bằng cách dùng một dùi tre gõ vào đoạn dây ngắn và hát giọng trầm thì gõ vào dây dài. Sợi dây tơ rung sẽ làm dùi tre ở giữa gõ vào mâm gỗ và tạo nên tiếng trống.
Bí ẩn một lời nguyền
Trong thôn Đào Xá hiện còn lưu truyền một truyền thuyết lạ liên quan đến lễ hội độc đáo này. Theo truyền thuyết đó thì ngày xưa khi người làng Đào Xá mở hội trống quân vào rằm tháng Tám, dân làng trong thôn đón một gánh chèo về hát ở đình Đào Quạt nhưng không hiểu vì sao khi vừa bước vào hát, hai nhân vật ra giáo đầu tự nhiên lăn quay ra chết. Các cụ bô lão cho rằng đó là do lời nguyền năm xưa linh ứng (Có một đôi trai gái yêu nhau, trai người thôn Tào, gái thôn Đào. Vì bị gia đình cô gái ngăn cản nên cả hai đã tìm đến cái chết để được trọn đời bên nhau. Trước khi chết cô gái nguyện rằng, từ rày gái thôn Đào chỉ được hát với trai thôn Tào, nếu hát với người ngoài thì sẽ bị vật chết). Làng liền cho mời các cặp hát của Tào Khê về thì hội làng lại vui vẻ, rộn ràng khác thường. Chính vì thế mà mối quan hệ giữa hai làng Tào Khê và Đào Xá gắn bó khăng khít như “vợ” với “chồng” cho đến tận ngày nay.
Còn gia phả dòng họ Nguyễn Danh thôn Tào Khê, xã Thúc Kháng (một trong những dòng họ có công khai phá ra vùng đất Tào Khê và Ngọc Cục) thì lại chép rằng: “Vào thời vua Lê chúa Trịnh, Giáp Tào (ngày xưa tổng Ngọc Cục được chia làm 8 giáp, mỗi giáp tương đương với một thôn ngày nay - PV) có bà Nguyễn Thị Húy Mỹ là con gái quan Đặc Tứ Trấn Quốc thượng tướng quân, hữu đô đốc, Quyền Thọ hầu Nguyễn Danh Quán. Người không đẹp nhưng lại có duyên, có giọng hát mê hồn. Mỗi khi bà cất tiếng thì già trẻ, gái trai trong làng ngoài tổng đâu đâu cũng lũ lượt kéo đến nghe. Chúa Trịnh Cương vì mê tiếng hát nên đã cưới bà làm thiếp, phong là Thiên Từ Tôn Linh - Quản thị nội hầu chuyên dạy cung nữ múa hát. Bà không có con nên không được phong phi. Bà mất năm 40 tuổi. Sau khi bà mất, một số học trò của bà đã đem những vốn nghề bà dạy về dạy lại cho dân làng Giáp Tào là quê hương của bà. Từ đó cứ vào Tết Trung thu hàng năm, người dân Giáp Tào lại tổ chức lễ hội hát trống quân và chọn thôn Đào Xá để hát đối đáp vì hai bên rất hợp nhau...”. Theo đó, sự kết hợp giữa Tào Khê và Đào Xá trong lễ hội hát trống quân là do hợp nhau chứ không phải vì từng có lời nguyền.
Chỉ tiếc rằng trong mấy năm trở lại đây lễ hội này đã không còn diễn ra bên bờ sông Cửu An nữa, mà đã dời về hát ở đình làng Ngọc Cục. Nguyên nhân là do cách đây mấy năm, trong ngày hội, một số thanh niên thôn Tào vì nóng lòng muốn gặp thôn nữ vừa hát giao duyên với mình nên vội vàng dong thuyền sang bờ bên kia giao lưu nhưng khi ra đến giữa dòng thì thuyền bị lật và một số người đã bị chết đuối. Điều này khiến cho các cụ bô lão hết sức tức giận vì cho rằng con trẻ đã phạm đến điều cấm kỵ của thánh thần. Do đó, lễ hội bị dời địa điểm tổ chức cũng như thay đổi cả hình thức biểu diễn. Ngày nay, trước khi tổ chức lễ hội người làng Tào Khê và Ngọc Cục phải làm lễ tế tại đình làng và Đền Bà Chúa. Quân hát khi ra hát phải mặc trang phục mà làng quy định. Trống quân cũng không phải là loại trống đất ngày xưa nữa mà thay vào đó là loại trống quân thông thường. Điều này khiến cho lễ hội trống quân không còn to lớn và vui vẻ như xưa nữa.
Tuy nhiên, hiện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương đang lên kế hoạch để khôi phục lại lễ hội theo tục cũ nhằm giữ gìn nét văn hóa độc đáo riêng có mà người xưa đã truyền lại.
Xung quanh lễ hội độc đáo này hiện đang có nhiều truyền thuyết mang màu sắc bí ẩn mà cho đến tận bây giờ vẫn chưa có lời giải đáp.
Theo sử sách, lễ hội này hình thành dưới thời chúa Trịnh Cương, lễ hội hát trống quân vào mỗi dịp Trung Thu của trai làng Tào Khê thuộc tổng Ngọc Cục, huyện Đường An (nay là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang), tỉnh Hải Dương với gái làng Đào Xá thuộc huyện Ân Thi, trấn Sơn Nam Thượng (nay là xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) được xem là lễ hội truyền thống tồn tại lâu bền và độc đáo nhất nhì vùng Bắc Bộ xưa.
Cụ Bùi Đình Trọng (78 tuổi) đang hoài niệm bên dòng Cửu An - nơi từng diễn ra lễ hội hát trống quân trong hơn 3 thế kỷ. |
Hát giao duyên đón Tết Trung thu
Cụ Bùi Đình Trọng (78 tuổi) thôn Ngọc Cục, xã Thúc Kháng kể rằng theo lệ xưa tục cũ, lễ hội hát trống quân đón trăng Rằm tháng 8 hàng năm diễn ra to nhất vào đúng đêm Trung thu, nhưng từ ngày mồng mười đầu tháng người làng hai thôn Tào Khê và Đào Xá đã quần tụ về hát hò, giao duyên thâu đêm suốt sáng. Thường trò hát bắt đầu vào khoảng 22h đêm vì đó là thời điểm trăng sáng nhất, gió thổi nhẹ nhất. “Ánh trăng dọi xuống mặt sông lấp lánh, tiếng ồn ào không còn, không gian yên tĩnh lắng mình cho tiếng hát. Sau một hồi trống hiệu, trai thôn Tào đứng bên này sông bắt đầu lên tiếng, hát vọng sang bên kia khơi mào trò hát. Gái thôn Đào bên này nghe đối thì hát đáp lại. Đôi này đối nhau cho đến khi nào không còn “vốn liếng” thơ ca nữa thì nhường lại cho đôi khác”. Trẻ hát theo lối của trẻ, già hát đối đáp theo lối của già. Cứ thế, trò hát kéo dài cho đến khi trời gần sáng. Thường thì gà gáy báo đã sang canh hai cũng là lúc hội bắt đầu vãn, người thưa dần. Lễ hội này kéo dài cho đến tận ngày 23 âm lịch của tháng Tám mới kết thúc.
Sở dĩ người hai thôn chọn đôi bờ sông Cửu An làm nơi tổ chức lễ hội vì đoạn sông này gần đền Bà Chúa – người đã có công khai sinh ra môn nghệ thuật truyền thống này. Thêm nữa, bề rộng của sông Cửu An chỉ xấp xỉ 50m nên khi trai gái hai làng đứng hai bên bờ sông dù có một khoảng cách nhất định nhưng vẫn nghe rõ tiếng hát của nhau và thậm chí nhìn thấy mặt nhau rất rõ. Cũng vì lẽ đó mà lễ hội trống quân này còn được gọi là hội “kết duyên đôi lứa”. Sau lễ hội thường có nhiều đôi trai gai nên duyên vợ chồng vì “kết” cái nghĩa cái tình gửi gắm cho nhau trong từng câu hát.
Tuy nhiên, có một nguyên tắc bất di bất dịch đó là, những người đã có vợ, có chồng thì không bao giờ được tham gia hát. Luật lệ này sinh ra từ một lời nguyền. Cụ Bùi Văn Ngựu (89 tuổi) người thôn Tào Khê cho hay, trước đây không hề có luật lệ này. “Số là vì muốn ai cũng được vui vẻ trong ngày hội nên không ai cấm ai hát hò, đối đáp. Tuy nhiên, có một số trai đã có vợ của thôn Tào khi hát đối với gái thôn Đào, vì quá say mê giọng hát của nhau nên đã bỏ vợ, bỏ chồng theo nhau... Trước đây, từng có một người vợ trẻ nhảy xuống sông Cửu An trẫm mình vì bị người chồng mới cưới phụ bạc, bỏ theo một người con gái khác bởi quá say mê giọng hát của nàng. Trước khi chết, người vợ đã nguyền rằng, từ hội rày trở đi nếu trai nào đã có vợ mà vẫn “xướng ca” thì người đó sẽ bị tuyệt tự. Bởi thế, hội không dám cho ai có vợ, có chồng vào hát nữa, trừ các bậc bô lão tuổi trên 60”.
Đình làng Ngọc Cục, nơi diễn ra lễ hội hát trống quân đón Trung thu ngày nay. |
Trống phục vụ cho lễ hội cũng là một loại trống hết sức đặc biệt. Để làm nên trống quân đệm thêm cho tiếng hát người ta thường đào một cái hố có đường kính khoảng 50cm, sau đó bỏ vào lòng hố hai vỏ ốc tù và loại lớn. Trên miệng hố người ta đặt một cái mâm gỗ vừa khít. Hai bên mâm được đóng hai chiếc cọc tre, giữa hai cọc tre được nối với nhau bởi một sợi dây tơ, giữa sợi tơ buộc một dùi tre theo tỉ lệ bên ngắn, bên dài. Mỗi khi quân hát giọng cao người trực trống chầu sẽ đệm trống bằng cách dùng một dùi tre gõ vào đoạn dây ngắn và hát giọng trầm thì gõ vào dây dài. Sợi dây tơ rung sẽ làm dùi tre ở giữa gõ vào mâm gỗ và tạo nên tiếng trống.
Bí ẩn một lời nguyền
Trong thôn Đào Xá hiện còn lưu truyền một truyền thuyết lạ liên quan đến lễ hội độc đáo này. Theo truyền thuyết đó thì ngày xưa khi người làng Đào Xá mở hội trống quân vào rằm tháng Tám, dân làng trong thôn đón một gánh chèo về hát ở đình Đào Quạt nhưng không hiểu vì sao khi vừa bước vào hát, hai nhân vật ra giáo đầu tự nhiên lăn quay ra chết. Các cụ bô lão cho rằng đó là do lời nguyền năm xưa linh ứng (Có một đôi trai gái yêu nhau, trai người thôn Tào, gái thôn Đào. Vì bị gia đình cô gái ngăn cản nên cả hai đã tìm đến cái chết để được trọn đời bên nhau. Trước khi chết cô gái nguyện rằng, từ rày gái thôn Đào chỉ được hát với trai thôn Tào, nếu hát với người ngoài thì sẽ bị vật chết). Làng liền cho mời các cặp hát của Tào Khê về thì hội làng lại vui vẻ, rộn ràng khác thường. Chính vì thế mà mối quan hệ giữa hai làng Tào Khê và Đào Xá gắn bó khăng khít như “vợ” với “chồng” cho đến tận ngày nay.
Hồ bên cạnh đình Ngọc Cục được chọn làm nơi hát giao duyên của các cặp trai gái của hai thôn Ngọc Cục và Tào Khê. |
Còn gia phả dòng họ Nguyễn Danh thôn Tào Khê, xã Thúc Kháng (một trong những dòng họ có công khai phá ra vùng đất Tào Khê và Ngọc Cục) thì lại chép rằng: “Vào thời vua Lê chúa Trịnh, Giáp Tào (ngày xưa tổng Ngọc Cục được chia làm 8 giáp, mỗi giáp tương đương với một thôn ngày nay - PV) có bà Nguyễn Thị Húy Mỹ là con gái quan Đặc Tứ Trấn Quốc thượng tướng quân, hữu đô đốc, Quyền Thọ hầu Nguyễn Danh Quán. Người không đẹp nhưng lại có duyên, có giọng hát mê hồn. Mỗi khi bà cất tiếng thì già trẻ, gái trai trong làng ngoài tổng đâu đâu cũng lũ lượt kéo đến nghe. Chúa Trịnh Cương vì mê tiếng hát nên đã cưới bà làm thiếp, phong là Thiên Từ Tôn Linh - Quản thị nội hầu chuyên dạy cung nữ múa hát. Bà không có con nên không được phong phi. Bà mất năm 40 tuổi. Sau khi bà mất, một số học trò của bà đã đem những vốn nghề bà dạy về dạy lại cho dân làng Giáp Tào là quê hương của bà. Từ đó cứ vào Tết Trung thu hàng năm, người dân Giáp Tào lại tổ chức lễ hội hát trống quân và chọn thôn Đào Xá để hát đối đáp vì hai bên rất hợp nhau...”. Theo đó, sự kết hợp giữa Tào Khê và Đào Xá trong lễ hội hát trống quân là do hợp nhau chứ không phải vì từng có lời nguyền.
Chỉ tiếc rằng trong mấy năm trở lại đây lễ hội này đã không còn diễn ra bên bờ sông Cửu An nữa, mà đã dời về hát ở đình làng Ngọc Cục. Nguyên nhân là do cách đây mấy năm, trong ngày hội, một số thanh niên thôn Tào vì nóng lòng muốn gặp thôn nữ vừa hát giao duyên với mình nên vội vàng dong thuyền sang bờ bên kia giao lưu nhưng khi ra đến giữa dòng thì thuyền bị lật và một số người đã bị chết đuối. Điều này khiến cho các cụ bô lão hết sức tức giận vì cho rằng con trẻ đã phạm đến điều cấm kỵ của thánh thần. Do đó, lễ hội bị dời địa điểm tổ chức cũng như thay đổi cả hình thức biểu diễn. Ngày nay, trước khi tổ chức lễ hội người làng Tào Khê và Ngọc Cục phải làm lễ tế tại đình làng và Đền Bà Chúa. Quân hát khi ra hát phải mặc trang phục mà làng quy định. Trống quân cũng không phải là loại trống đất ngày xưa nữa mà thay vào đó là loại trống quân thông thường. Điều này khiến cho lễ hội trống quân không còn to lớn và vui vẻ như xưa nữa.
Tuy nhiên, hiện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương đang lên kế hoạch để khôi phục lại lễ hội theo tục cũ nhằm giữ gìn nét văn hóa độc đáo riêng có mà người xưa đã truyền lại.
Hà Tùng Long
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét